Mắt 1-10
Câu 1 Cấu tạo mi mắt:
Mí mắt
Cấu tạo từ trước ra sau gồm có :
Da mi:
Da mi mỏng và mịn,tổ chức dưới da rất nhẵn,có tính chất đàn hồi cao,được nuôi dưỡng rất tốt bởi hệ thống mạch máu phong phú,có độ chùng rất tốt so với da khác trên cơ thể
Vậy có thể cắt 1 phần da mi mà không bị co kéo.
Do tổ chức dưới da rất nhão,nên mỗi khi mí mắt bị viêm hoặc bị xuất huyết dưới da thì hiện tượng phù nề rất dễ lan rộng.
Mỗi khi tiến hành phẫu thuật ở mí,nếu cần và da cần lựa chọn miếng da ghép cho phù hợp với da mi để đảm bảo mĩ quan,thường người ta lấy ở phía sau tai hoặc ở phía sau cánh tay.
o Lớp cơ : gồm có :
Cơ vòng cung mi:Có những thớ cơ vòng bao quanh khe mi
Mới đầu các sợi cơ bám vào dây chằng mi trong và dây chằng mi ngoài.
Các bó cơ vòng nằm sát bờ mi,cạnh hang trong chân mi được gọi là cơ riolan.
Cơ vòng cung mi do dây thần kinh số 7 chi phối,điều khiển động tác nhắm mắt.Khi liệt 7,mát nhắm không kín,nhãn cầu đưa lên trên,đó là dấu hiệu Charles.
Cơ nâng mí :
Từ đỉnh hố mắt đi ra phía trước,các thớ cơ bám vào da mi và bờ trên sụn mi.Bao cơ nâng mi dính liền bao cơ trục trên.
Mối liên quan này có mối quan trọng về bệnh lý và phẫu thuật.Trong sụp mi bẩm sinh,sụp mi thường kèm theo liệt cơ thẳng trên.Trong phẫu thuật sụp mi có thể tận dụng cơ thẳng trên để nâng mi lên nếu cơ này còn tốt.
Do dây thần kinh số 3 điều khiển,động tác là mở mắt.
Cơ Muller : phụ trách trương lực của mí măt và do hệ giao cảm chi phối
o Lớp sụn : là mô xơ dày chứa nhiều tuyến Meibomius
----------------------
Câu 2 Cấu tạo dẫn lưu nước mắt:
• Nước mắt do tuyến lệ tiết ra,chan hòa khắp bề mặt kết mạc-giác mạc,rồi theo đường dẫn nước mắt để chảy xuống mũi.Đường dẫn nước mắt gọi là lệ đạo.
• Lệ đạo gồm có:
Lỗ lệ:có 2 lỗ lệ,lỗ lệ trên nằm ở góc trong bờ mi trên,lỗ lệ dưới nằm trong góc trong bờ mi dưới.
Lệ quản:có 2 lệ quản,lệ quản trên và lệ quản dưới.Lệ quản dẫn nước mắt từ lỗ lệ vào ống chung
Ống lệ và túi lệ:nằm trong máng lệ,ở bờ trong hố mắt
Mặt trước túi lệ tiếp giáp với dây chằng mi trong
Ống lệ mũi dẫn nước mắt xuống mũi,mở ra ở ngách mũi dưới.
Khi tuyến lệ đa tiết ,túi lệ bị viêm ,hoặc lệ đạo bị tắc ,nước mắt bị ứ đọng lại ở cùng đồ dưới rồi chảy ra má,nó là hiện tượng chảy nước mắt.
------------------
Câu 3 Cấu tạo thể thủy tinh:
Thể thủy tinh là một thấu kính trong suốt , hai mặt lồi , nằm sau mống mắt và trước dịch kính . Đường kính ngang khoảng 9mm ,bán kính độ cong mặt trước là 10mm,bán kính độ cong mặt sau là 6-8mm, dày khoảng 4mm .
Công suất quang học là 20-22D.
Thể thủy tinh gồm 2 phần:
Màng bọc và nhân màng bọc gồm:màng bọc trước và màng bọc sau.
Nhân thể thủy tinh :chia làm 2 phần:
Nhân bào thai được hình thành từ thời kỳ bào thai do lớp liên bào của màng bọc sau tạo thành
Nhân trưởng thành do lớp liên bào của màng bọc trước tạo thành,trong suốt quá trình phát triển của cơ thể
Thể thủy tinh hoàn toàn không có mạch máu và thần kinh.Nuôi dưỡng cho thể thủy tinh hoàn toàn là nhờ thẩm thấu 1 cách có chọn lọc từ thủy dịch.
Vai trò của thể thủy tinh:
Công suất hội tụ của thể thủy tinh có vai trò quan trọng trong hệ thống khúc xạ,giúp tiêu điểm ảnh hội tụ đúng trên võng mạc.
Khả năng thay đổi độ dày của thể thủy tinh gọi là sự điều tiết khiến chúng ta nhìn rõ những vật ở gần.
--------------------------------------------------
Câu 4 Định nghĩa,lâm sàng,tiến triển,điều trị lẹo:
• Định nghĩa:Lẹo là một nhiễm trùng của tuyến bã nhờn ở chân long mi (tuyến zeiss)thường do tụ cầu vàng.Lẹo là 1 nhọt cấp tính ở bờ tự do của mi mắt,có khả năng sinh mủ.
• Lâm sàng:
Lúc đầu bệnh nhân có cảm giác nóng ở bờ mi,vướng,khó chịu và đau khi sờ nắn ngoài da.
Khám thấy bờ tự do đỏ 1 vùng,sau vài ngày thấy 1 điểm màu vàng ,đó là ngòi mủ.Khi ngòi mủ được tháo ra thì các triệu chứng tại chỗ giảm đi ngay.
Cần làm xét nghiệm tìm các nguyên nhân gây ra nhọt,trong trường hợp lẹo tái phát,nhất là tìm kiếm đái tháo đường.
• Tiến triển:lành tính.
• Điều trị:
Thời gian đầu thì sử dụng kháng sinh tại chỗ.
Nếu vài ngày sau không có kết quả ,lẹo sưng to,có thể trích hoặc rạch lẹo.Khi lẹo tái phát cần tìm nguyên nhân gây ra lẹo.
Chỉ cần dung kháng sinh toàn thân trong trường hợp suy giảm miễn dịch toàn thân trầm trọng.
Lẹo ở vùng khóe mắt bên ngoài cần phân biệt với viêm lệ cấp tính.
-----------------------------------------
Câu 5 Định nghĩa,lâm sàng,tiến triển chắp:
• Định nghĩa:chắp là 1 tổn thương lành tính do 1 tổn thương u hạt ,vô trùng,có viêm,phát triển từ sụn của tuyến Meibomius
• Lâm sàng:
Chắp biểu hiện bằng 1 nốt dưới mi trên hoặc mi dưới,ít đau hoặc không đau,nằm sâu trong mi,có thể nắn thấy trong bề dày của mi.
Chắp có thể có nhiều hình thái tùy theo vị trí mọc:
Chắp ngoài:nốt hình bán cầu,không đau,chắc,nổi lên dưới da.
Chắp trong:nốt đau hơn,thấy rõ khi lộn mi.
Chắp ở bờ tự do:cục hình nón nhô lên ở kết mạc bờ tự do của mi.
Viêm sụn tuyến Meibomius:là sự kết hợp của nhiều chắp.
• Tiến triển:tiến triển khác nhau:
Thoái triển ở trẻ em nhưng có nguy cơ tái phát nhiều lần.
Không tiến triển khi u hạt đã nang hóa.
Đôi khi biến chứng nụ thịt trên mặt chắp trong.
Câu 6 Dấu hiệu thực thể của viêm kết mạc:
Viêm kết mạc là 1 bệnh rất dễ lây ,có khi thành dịch,nhất là vào mùa hè.
Dấu hiệu thực thể:
• Đỏ mắt : do mạch máu ở lớp nông kết mạc cương tụ . nếu viêm kết mạc cấp có thể gây xuất huyết kết mạc. Máu được hòa loãng với nước mắt thành dịch màu hồng . Đỏ nhiều ở kết mạc mi , nhạt dần đến kết mạc nhãn cầu vùng rìa còn gọi là cương tụ ngoại vi ,không có cương tụ rìa.
• Xuất huyết dưới giác mạc hiếm gặp,nhưng có thì đặc hiệu cho enterovirus(thường có) và do Haemophilus Aegyptus hoặc trực khuẩn Weeks(thường không có).
• Tiết tố ( ghèn, rử ) :
Đó là chất xuất tiết màu vàng hoạc như mủ có khi lẫn máu.
Thành phần gồm chất nhầy do tuyến nhầy tiết cùng với xác vi khuẩn và các tế bào biểu mô bong rụng .
Tiết tố đọng lại thành tưng cục , đám và rất quánh dính chặt vào chân lông mi hoặc đọng lại ở hai khóe mắt .
• Nhú :
Là những chỗ nổi lên của kết mạc,ở giữa có mạch máu,do thâm nhiễm bạch cầu,làm cho kết mạc có dạng nổi hạt.
Nhú gai gặp trong viêm kết mạc do vi khuẩn hoặc dị ứng(VKM mùa xuân)
Dưới sinh hiển vi chúng là những nụ mạch máu nhỏ đều , mỗi nụ máu là trung tâm của một nhú. Các nhú tập trung cái nọ chồng lên cái kia .
Kích thước từ đâu đinh ghim cho tới to như u hạt . Khi nhú nhỏ và nhiều sẽ làm cho kết mạc như nhung , khi các nhú to, dẹt , chồng chất cái nọ lên cái kia thành hình đa giác trông như lát gạch ở kết mạc sụn mi trên.
• Các hạt :
Đó là biểu hiện quá sản của các hạt lâm ba dưới biểu mô , đôi khi nhìn thấy bằng mắt thường.
Hạt có dạng nửa hinh cầu trong hay hơi đục , không có mạch máu ở trung tâm . chu biên có mach máu nổi lên dưới biểu mô kết mạc , cái này cách cái kia , có thể có ít hay nhiều , to từ đấu đinh ghim trở lên .
Chúng thường ở 2 góc và cùngđồ dưới . Hột gặp trong viêm kết mạc do chalamydia(bệnh mắt hột,VKM thể vùi)
Trong bệnh mắt hột hạt chứa đầy một chất vàng nhạt về sau có thể bị vôi hóa
• Màng và giả mạc:gợi ý viêm kết mạc do liên cầu(kể cả phế cầu)hoặc bệnh bạch hầu,Khác giả mạc,các màng khi bóc khó khăn và gây chảy máu.
• Phù :Sự có mặt của phù nề kết mạc gợi ý căn nguyên dị ứng hoặc Adeno vius
• Tình trạng giác mạc sau khi tra fluorescein,giác mạc không bao giờ bắt màu fluo nếu không có viêm kết mạc.
• Tiền phòng,đồng tử ,nhãn áp bình thường.
• Hạch trước tai gợi căn nguyên do vius hoặc chalarmidia,thường không có hạch trong viêm kết mạc do vi khuẩn.
---------------------------------
Câu 7 Tiến triển của viêm kết mạc:
• Tiến triển thường tốt,bệnh khỏi hoàn toàn vinhc viễn,mức độ nhanh chóng tùy theo tác nhân gây bệnh.
• Cũng có thể diễn biến cấp tính làm cho mắt khó hịu nhiều hoặc diễn biến mạn tính,tiến triển âm thầm hơn và điều trị khó khăn.
• Trong quá trình tiến triển có thể xảy ra các biến chứng như:
Viêm giác mạc chấm nông.
Viêm giác mạc dưới biểu mô.
Viêm toàn nhãn,áp xe giác mạc,viêm màng bồ đào trước(hiếm gặp)
------------------------------------------
Câu 8: định nghĩa Glocom là một hội chung được thể hiện trên lâm sàng bằng tang chứng Glocom gồm
+ Tai nghẽn áp
+ giảm sút chức năng thị giác
+ Tổn thương thần kinh thị giác
Bệnh nhân sẽ mù nếu như không điều trị trong tam chứng thì tai nghẽn áp là chính dẫn đến giảm sút chức năng thị giác dựa vào cơ chế tai nghẽn áp phân ra nhiêu loại Glocom trong đó nhãn áp là tổng hợp lực của tất cả những dung môi trong nhãn cầu đè lên nhãn cầu.
------------------------------
Câu 9: Phân loại bệnh Glocom
Dựa vào cơ chế tăng nhãn áp chia ra làm 2 loại là:
- Glocom nguyên phát gồm:
+ Glocom góc đóng
+ Glocom góc mở
+ Glocom bẩm sinh
+ Glocom đa tiết
+ Glôcm ở người trẻ
- Glocom thứ phát gồm có 2 loại:
+ Những bệnh nằm ngoài nhãn cầu gây tăng nhãn áp.
Ví dụ: U hốc mắt đè vào tĩnh mạch ngoài nhãn cầu làm đè vào nhãn cầu gây tăng nhãn áp.
+ Những bệnh nằm trong nhãn cầu:
* U mống mắt dẫn đến bịt góc tiền phòng làm cho góc tiền phòng bị hẹp lại làm cản trở lưu thoát thuỷ dịch.
* Viêm màng bồ đào dẫn đến dính đồng tử làm cho dịch từ hậu phòng ra tiền phòng không còn.
* Bệnh thể thuỷ tinh: tăng niêm mạc thể thuỷ tinh dẫn đến thể thuỷ tinh trương lên do thuỷ tinh ngấm qua vỏ bao thể thuỷ tinh làm chèn ép đồng tử qua đó nghẽn lưu thông thuỷ dịch.
* Sai lệch thể thuỷ tinh: Thuỷ tinh thể ra ngoài tiền phòng làm bịt góc tiền phòng.
* Dịch kính viêm màng bồ đào sau biến đổi chất lượng gây viêm không nhiễm trùng làm cho tăng nhãn áp.
* Tăng trọng lượng dịch kính do chảy máu trong dịch kính dẫn đến tăng nhãn áp.
* Võng mạc: K của các tế bào thần kinh ở võng mạc ở trẻ em chia ra làm 2 loại.
K tế bào chưa biệt hoá hay gặp
K tế bào biệt hoá ít gặp
Thường gặp ở trẻ em 3- 5 tuổi, không phân biệt nam và nữ, có yếu tố di truyền phả hệ, rất ít gặp ở trẻ trên 10 tuổi.
Dấu hiệu đầu tiên là dấu hiệu mèo mù: K phát triển làm cho tăng niêm mạc, xâm thực đầu tiên vào thần kinh thị giác do đó lồi vào thần kinh thị giác. Chia 2 giai đoạn K võng mạc
Giai đoạn nội nhãn: K phát triển trong nhãn cầu
Giai đoạn xuất ngoại: K xuất ngoại làm cho vỡ nhãn cầu thường có di căn rồi.
Điều trị
Phát hiện sớm
Khoét càng sớm càng tốt
Cắt càng dài dây thần kinh thị càng tốt đến vùng tế bào lành.
---------------------------------
Câu 10:
Điều trị nội khoa: chưa có thuốc điều trị đặc hiệu với đục thuỷ tinh đã chín. Tuy nhiên đối với đục thuỷ tinh lúc đầu có thể vùng vitaminl, canxi, iốt, glutathion, cũng có tác dụng làm giảm vùng đục.
Điều trị ngoại khoa: là phương pháp điều trị duy nhất chữa khỏi bệnh bằng cách lấy thể tinh thể đục. Để xác định được trường hợp đục thể tinh thể có thể mổ được.
_ Võng mạc và thần kinh phải tốt. Muốn đánh giá được chức năng của võng mạc và thị thần kinh, phải căn cứ vào thị lực, phản xạ đồng tử và hướng sáng
Thị lực : Tối thiểu mắt phải ccảm giác được sáng tối. Nếu mắt không còn cảm nhận được sáng tối, tức võng mạc hoặc thần kinh hoàn toàn hỏn, dù có mổ cũng không mang lại kết quả về thị lực.
Hướng ánh sáng: Mắt phải nhận biết được mọi hướng ánh sáng, tức là toàn bộ võng mạc đều tốt.
Nếu cả 3 yếu tố: Thị lực phản xạ đồng tử và hướng ánh sáng đều tốt cả,chắc chắn sau khi mổ sẽ mang lại kết quả tốt về thị lực.
_ phải điều trị khỏi hết các viêm nhiễm ở mắt như hột, viêm loét bờ mi, viêm túi lệ , lông quặm...
Nuôi cấy : Không còn 1 loại vi trùng gây bệnh nào ở kết mạc.
Về toàn thân: Bệnh nhân phải khoẻ mạnh, không mang bệnh cấp tính. Nếu bị bệnh phổi cấp tính hoặc đang tiến triển, chỉ mổ sau khi bệnh đã điểu trị ổn định. Nếu bệnh nhân bị đái tháo đường phải kết hợp nội khoa, điều trị bằng insulin làm giảm tỉ lệ đường huyết, khi bệnh nhân ổn định mới được mổ.
Gửi bệnh nhân đi khám và điều trị các ổ viêm nhiễm ở vùng lân cận như viêm tai, viêm xoang sâu răng...
* Các phương pháp để lấy thuỷ tinh:
_ Lấy thể thuỷ tinh trong bao + với đặt thểt tinh nhân tạo .
_ Lấy thể thuỷ tinh ngoài bao + với đặt thể thuỷ tinh nhân tạo
_ Lấy thể thuỷ tinh bằng siêu âm
_ Cắt thể thuỷ tinh, cắt toàn bộ bằng máy cắt dịch kính.
Đọc thêm!
RHM
Câu1 : Bệnh căn và bệnh sinh của bệnh lý tủy răng ? Sự khác nhau giữ viêm tủy có hồi phục và viêm tủy không hồi phục ?
Trả lời :
* Bệnh căn được chia làm 3 nhóm : Nhiễm khuẩn, yếu tố vật lý, hóa học.
- Nhiễm khuẩn :
+ Toàn thân : Bệnh cúm, thương hàn, viêm ruột thừa, bệnh hủi. Có thể do trung hợp ngẫu nhiên( tỉ lệ ít gặp).
+ Tai chỗ :
_ Sâu răng, vi khuẩn theo ống tome vào buồng tủy.
_ Lõm hình chêm, rạn răng cũng có thể gây viêm tủy răng.
_ Viêm quanh răng gây viêm tủy ngược dòng.
- Vật lý :
+ Toàn thân : thay đổi áp suất hay đọ cao đọt ngột khi máy bay cất cánh, hạ cánh hay lặn xuống quá sâu.
+ Tại chỗ :
_ Cơ năng : Sang chấn mạnh cấp tính( gây rạn, mẻ răng) ; Sang chấn mạn tính( sang chấn nhẹ nhưng liên tục như : sai lệch khớp cắn, thói quen cắn chỉ, hàm cao).
_ Yếu tố nhiệt độ : Nhiệt độ tăng hay giảm nhanh có thể gây ra viêm tủy như mài răng tốc độ cao không có nước hay sự tỏa nhiệt của chất hàn như ximăng hay nhựa tự cứng khi hàn răng.
- Hóa học :
+ Toàn thân : ĐTĐ, Gout, nhiễm độc chì, thủy ngân.
+ Tại chỗ : Chất sát khuẩn mạnh như bạc Nitrat, clorofoc, rược...
• Sự khác nhau giữa viêm tủy có hồi phục và không hồi phục :
------------------------------
Câu 2 : Trình bày bệnh căn và bệnh sinh của bệnh nha chu ?Triệu chứng và điều trị của bệnh viêm lợi ?
Trả lời :
• Bệnh căn và bệnh sinh của bệnh nha chu :
- Các yếu tố bên ngoài vùng quanh răng :
+ Sự sắp xếp không đều dẫn đến phát sinh các mảng bám vi khuẩn ở răng, lợi là nguồn gốc pt viêm.Răng lệch lạc dẫn đến quá tải ở 1 số nhóm răng. Nếu đồng thời có viêm thì nhưng chỗ đó tiêu xương ổ răng nhanh.
+ Sang chấn khớp cắn hay gap do hàm răng lệch lạc, người có tật nghiến răng, chất hàn thừa, hàn kênh, làm hàm giả sai kỹ thuật.
+ Phanh môi bám cao, ngách tiền đình nông gây co kéo nhiều khi ăn và nói làm cho mảng bám, thức ăn dễ tích tụ dưới lợi dẫn đến tình trạng viêm quanh răng.
+ Chất hàn thừa xuống kẽ lợi răng ở lỗ sâu loại II và V gây kích thích viêm lợi.
+ Cao răng tạo ra do sự lắng đọng muối calci ở nước bọt vào cổ răng làm bờ lợi không ôm khít vào cổ răng, tạo điều kiện cho mảng bám tích tụ kích thích lợi gây viêm.
+ Mảng bám răng bản chất là cặn thức ăn có chứa vi khuẩn bám trên bề mặt răng, lợi. Các loại vi khuẩn yếm khí và ái khí trên bề mặt mảng bám trong quá trình sống đào thải ra các sản phẩm chuyển hóa và độc tố gây độc cho lợi và các thành phần, tổ chức quanh răng phía dưới. Nếu không chải răng sau 24h mảng bám có khả năng gây bệnh.
- Các yếu tố nội tai :
+ Suy dinh dưỡng, thiếu Vitamin B,C ; các yếu tố toàn thân : ĐTĐ, bệnh máu, bệnh động kinh, tâm thần.
+ Thay đổi nội tiết ở tuổi dậy thì, thai nghén và cho con bú có ảnh hưởng tới sự thay đỏi ở lợi, dễ dẫn đến viêm lợi, viêm quanh răng.
+ Mỗi cá thể còn có sự mẫn cảm và đáp ứng với các yếu tố gây bệnh khác nhau do sự khác nhau của phản ứng miễn dịch và sức đề kháng của cơ thể với các yếu tố ây viêm quanh răng là khác nhau.
• Viêm lơi : là viêm khu trú ở lợi( bờ lợi,nhú lợi, lợi dính) nhưng không ảnh hưởng tới xương ổ răng.
- Triệu chứng :
+ Lâm sàng : Rất đa dạng.
_ Viêm phá hủy nhú lợi, đường viền lợi và lợi bám dính.
_ Có thể cso viêm đỏ, viêm thanh dịch, viêm loét, viêm phì đại và các thể viêm đặc hiệu do lao, giang mai.
_ Viêm nặng thường dễ chảy máu, rất đau khi ăn nhai, khi chải răng, có khi chảy máu tự nhiên.
_ Bệnh nhân ngại ăn thức an rắn, ngại vệ sinh răng miệng đặc biệt là viêm lợi do Herpes
+ Tiến triển :
_ Vệ sinh răng miệng tốt và chữa kịp thời thì lợi sẽ hết viêm và trở lại bình thường.
_ Nếu không điều trị triệt để bệnh sẽ dễ tái phát và bị viêm mạn tính, có thể tiến triển thành viêm quanh răng.
- Điều trị :
+ Thời gian viêm cấp : chữa trị tại chỗ : bơm rửa sạch tại chỗ bằng oxy già 3-6% hoặc tím gential 5%.
+ Dùng các thuốc làm săn niêm mạc như : Gential 1-2%, ATS 30%, ở viêm lợi loét hoại tử có thể dùng bạc nitrat 1-5% chấm vao chỗ loét.
+ Sau 1-2 ngày thì lấy cao răng và mảng bám, hương dẫn bệnh nhân giữ vệ sinh răng miệng, chải răng đúng kỹ thuật.
--------------------------------
Câu 3 :Trình bày triệu chứng và điều trị bệnh viêm quanh răng ? Các thể bệnh viêm quanh răng ?
Trả lời :
• Triệu chứng :
- Thời kỳ đầu :
+ Bệnh âm ỉ, kéo dài, ngứa ở lợi, chảy máu khi chải răng, thỉnh thoảng thấy răng lung lay, răng cửa trên có thể thưa dần và đẩy ra trước, miệng hôi, thường bệnh nhân tự điều trị.
+ Khám thấy 1 vùng hay cả hàm, có khi cả 2 hàm, viêm lợi mạn tính, túi lợi sâu >1,5mm, răng lung lay nhẹ.
+ XQ có dấu hiệu tiêu mào xương ổ răng.
+ Trong thời kỳ này, nếu vệ sinh răng miệng tốt và điều trị tại chỗ thì hiệu quả rất tốt.
- Thời kỳ nặng :
+ Người trên 45 tuổi, triệu chứng ồ ạt hơn thời kỳ đầu đặc biệt là hôi miệng nhiều, ấn lợi vùng răng bị bệnh co mủ chảy ra , răng lung lay và di chuyển nhiều.
+ Khám thấy lợi viêm mạn tính : túi quanh răng >4-5mm, răng lung lay, lợi co hở cổ và chân răng, răng lệch lạc, tiêu xương ở răng hỗn hợp : tiêu ngang và tiêu chéo.
- Tiến triển :
+ Không điều trị kịp thời sẽ dẫn đến mất răng hàng loạt.
+ Nếu điều trị kịp thời bệnh sẽ khỏi và hồi phục chức năng ăn nhai.
+ Với những người kèm theo bệnh toàn thân thì tiên lượng xấu, khó giữ được lâu.
- Biến chứng :
+ Túi mủ quanh răng phát triển thành áp xe quanh răng, có thể khu trú ở 1 hoặc nhiều răng.
+ Viêm tủy răng nược dòng do nhiễm trùng từ túi mủ quanh răng lan tới cuống răng vào tủy răng.
+ Viêm mô tế bào.
+ Viêm xoang hàm.
+ Viêm tủy xương hàm.
• Các thể lâm sàng :
+ Viêm quanh răng cấp tính ở người trẻ : gặp nhiều ở thanh thiếu niên, thường viêm phá hủy răng số 6 và vùng răng cửa giữa trên rất nhanh, răng lung lay và mất chức năng ăn nhai, có thể lan tỏa cả hàm hoặc 2 hàm, bệnh tiến triển rất nhanh, tiêu xương nhanh, trong vòng 2-5 năm răng se rụng toàn bộ.
+ Viêm quanh răng tiến triển nhanh : gặp ở tuổi trưởng thành từ 18-30 tuổi. Viêm có thể khu trú hoặc toàn hàm, có tiêu xương ngang và sâu tiến triển nhanh.
+ Viêm quanh răng mạn tính : gặp ở tuổi trung niên, tiến triển chậm từng đợt thời gian dài. Nếu điều trị kịp thời thì còn giữ răng lâu dài.
+ Viêm lợi loét hoại tử viêm quanh răng : thể này nặng, cần được điều trị tích cực.
• Điều trị :
- Loại trừ các kích thích tại chỗ như : lấy cao răng, mảng bám răng, chất hàn thừa, sửa lại hàm giả sai kỹ thuật, chữa và nhổ các răng sâu, chân răng sâu mất chức năng và biến chứng, chỉnh sửa khớp cắn sang chấn.
- Điều trị viêm lợi, túi mủ quanh răng bằng phương pháp bảo tồn và phẫu thuật, liên kết các răng lung lay.
- Phục hồi lại các răng đã mất bằng hàm giả.
- Hướng dẫn bệnh nhân vệ sinh răng miệng, chải răng đúng kỹ thuật.
- Trong giai đoạn cấp tính của bệnh, hoặc áp xe quanh răng nhiều ở cần phối hợp thuốc kháng sinh, giảm đau và sinh tố. Xúc miệng bằng nước oxy già 3% pha loãng hoặc dung dịch clohexidin 0,12%.Có thể dung thuốc chống dị ứng, đưa các bột nhão kháng sinh vào túi quanh răng, điện di ion liệu pháp các loại men và sinh tố.
------------------------------------
Câu 4 : Trình bày nguyên nhân gây viêm nhiễm vùng hàm mặt ? Triệu chứng và điều trị viêm tấy lan tỏa vùng sàn miệng ?
Trả lời :
• Nguyên nhân gây viêm nhiễm vùng ham mặt :
- Do răng :
+ Biến chứng của sâu răng : sâu răng không được điều trị dẫn đến viêm tủy răng và gây hoại tử môi trường răng tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn yêm khí và kỵ khí phát triển, nhiễm trùng lan xuống cuống răng gây viêm xương hàm và viêm nhiễm phần mềm.
+ Viêm quanh răng : Vi khuẩn từ mủ túi lợi quanh răng lan qua xương ổ răng gây viêm nhiễm phần mềm.
+ Biến chứng mọc răng : trong thòi kỳ mọc răng có sự xáo trộn của xương hàm và tiêu chân răng sữa chuẩn bị mọc răng vĩnh viễn, tạo ra nhiều khe, kẽ để vi khuẩn xâm nhập vào xương gây viêm. Khi mọc răng khôn, nhất là răng khôn hàm dưới, là răng mọc phía sau cùng của xương hàm dưới và mọc chậm nhất( 10-20t) đo đó răng này dễ bị mọc lệch, lợi chùm hoặc ngầm trong xương hàm nên dễ gây nhiễm trùng.
- Không do răng :
+ Nhiễm khuẩn máu : Nhiễm khuẩn qua đường máu khu trú ở xương hàm, đặc biệt là xương hàm trên gây cốt tủy viêm.
+ Nhiễm khuẩn từ các khối u lành tính và ác tính trong xương hàm.
+ Gãy xương hàm hở.
+ Chấn thương phần mềm và xương vùng hàm mặt.
+ Tai biến do nhổ răng : nhổ xót chân, dập nát tổ chức nhiều, thủu thuật không đc vô trùng.
• Viêm tấy lan tỏa vùng sàn miệng :
- Triệu chứng :
+ Toàn thân :
_ Những ngày đầu sốt rất cao : 39-40oC, xuất hiện nhiễm trùng nhiễm độc nặng
_ Mạch nhiệt có thể phân li, bệnh nhân thao cuồng, vật vã, khó thở, khó nuốt.
+ Tại chỗ :
_ Sưng to vùng hàm dưới miệng 1 bên sau đó lan nhanh snag hàm bên đối diện.
_ Mặt hình quả lê, da đỏ, căng chắc.
_ Sờ có thể thấy dấu hiệu lạo xạo dưới da.
+ Trong miệng :
_ Miệng ở tư thế há, lưỡi bị đẩy gồ lên cao và tụt ra sau gây khó thở, nuốt khó, khó nói, nước bọt chảy nhiều mùi hôi thối.
_ Có thể thấy răng, hay gặp là răng hàm lớn hàm dưới bị chết tủy, viêm quanh răng.
+ Vùng sưng có thể lan xuống cổ, ngực, lên vùng cơ cắn, mang tai, vùng thái dương.
+ Xét nghiệm :
_ BC tăng cao đặc biệt là N.
_ Ure máu tăng cao.
_ G máu tăng.
_ VSS cao.
_ Có thể có Albumin niệu và đường niệu.
_ Cấy máu có thể dương tính.
- Điều trị :
+ Chống nhiễm trùng : kháng sinh liều cao, phối hợp nhóm beta lactam và nhóm aminozid, có thể cho thêm Metrodinazol.
+ Chống viêm : Nhóm steroid hoặc các men Maxilase.
+ Chống trụy mạch : truyền dịch.
+ Chống ngạt thở bằng đặt nội khí quản hoặc mở khí quản.
+ Tại chỗ :
_ Rạch dẫn lưu rộng, càng sớm càng tốt, rạch da từ góc hàm bên này sang bên kia kiểu móng ngựa. Làm thông giữa các vùng với nhau. Bơm rửa sạch bằng oxy già 5- 10 thể tích.
_ Đặt dẫn lưu to qua đường rạch và bơm rửa nhiều lân ftrong ngày bằng huyết thanh mặn đẳng trương, oxy già hoặc dung dịch Dakin.
_ Nhổ răng nguyên nhân.
_ Phát hiện và điều trị sớm các biến chứng : Viêm trung thất, viêm tắc tĩnh mạch xoang hang.
---------------------------------------
Câu 5 : Trình bày triệu chứng, điều trị áp xe vùng cơ cắn, và áp xe vùng má ?
Trả lời :
• Áp xe vùng má :giới hạn phía trước là rãnh mũi má và môi, phía sau là bờ dưới ổ mắt và phía dưới là bờ dưới xương hàm dưới.
- Triệu chứng :
+ Toàn thân : mệt mỏi, sốt cao 38-39oC, có phản ứng viêm hạch.
+ Tại chỗ : Những ngày đầu thấy sưng, nóng, đỏ da vùng má, rãnh rự nhiên bị xóa. Khi viêm đã tụ mủ thì bệnh nhân đỡ đau hơn.
+ Khám trong miệng thấy : Niêm mạc má phồng đỏ. Có thể thấy răng nguyên nhân là 1 răng hàm nhỏ bị viêm quanh cuống hoặc răng khôn đang mọc có viêm quanh thân răng.Khi mụ đã tụ sờ thấy có dấu hiệu chuyển sang bằng cách dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái để phía trong miệng và ngoài da nắn tìm.
- Điều trị :
+ Những ngày đầu cho dùng kháng sinh toàn thân giảm đau, chống viêm.Nếu có điều kiện thì mở tháo trống tủy răng nguyên nhân.
+ Khi chọc dò có mủ thì trích dẫn lưu áp xe, tốt nhất là dẫn lưu qua đường trong miệng : rạch niêm mạc trên chỗ phồng nhất song song với cung răng. Sau đó dùng kep Korcher chọc vào ổ mủ banh rộng để tháo mủ.Tùy thuộc vào nguyên nhân có thể bảo tồn được hay không. Nếu bảo tồn được thì phải điều trị răng như 1 răng bị viêm quanh cuống.
• Áp xe vùng cơ căn :phía trước là vùng má, phía sau là vùng mang tai, phía trên là bờ dưới cung tiếp gò má, phía dưới là góc hàm và bờ dưới xương hàm dưới.
- Triệu chứng :
+ Toàn thân : Sốt cao, ăn uống khó, mệt mỏi, đau nhức, mất ngủ.
+ Tại chỗ : sưng nóng, đỏ, đau vùng cơ căn, sưng có thể lan ra vùng mang tai, má dưới hàm.
+ Khám trong miệng : há miệng hạn chế hoặc khít hàm hoàn toàn ; niêm mạc bờ trước cành cao xương hàm dưới phồng, sờ đau. Có thể thấy răng nguyên nhân là răng hàm lớn hàm dưới bị viêm quanh cuống hoặc răng khôn hàm dưới đang mọc bị viêm quanh thân răng, mọc lệch hoặc ngầm.
+ Cần chụp phim hàm thẳng hoặc hàm chếch để tìm răng nguyên nhân.
+ Khi viêm đã tụ mủ thường là ngày thứ 7- 10 các triệu chứng toàn thân và tại chỗ có dịu đi, lúc này có thể thấy dấu hiệu chuyển sóng và chọc dò có mủ.
- Điều trị :
+ Chống nhiễm trùng : Kháng sinh liều cao, chống viêm.
+ Chích rạch dẫn lưu áp xe : có thể đi vào ổ áp xe theo 2 đường.
_ Đường trong miệng : khi áp xe nằm ở bó sâu cơ căn, rạch niêm mạc dọc bờ trước cành cao xương hàm dưới, dùng kẹp Korcher luồn mặt ngoài cành cao vào mặt trong cơ cắn để vào ổ ápxe.
_ Đường ngoài miệng : rạch da song song và cách bờ dưới 2 cm. Dùng kẹp Korcher luồn mặt ngoài cành cao xương hàm dưới để vào ổ áp xe, tháo rộng.
+ Nhổ bỏ răng nguyên nhân.
Đọc thêm!
TMH
1.Nguyên nhân
Do virut là nguyên nhân thường gặp và thương gặp nhiều loại, đa số là andenovirut, thường gặp gây viêm họng.
Do vi khuẩn: viêm họng, viêm VA, viêm A…
Do thời tiết thay đổi: lạnh ẩm kéo dài…
Do yếu tố kích thích hay chất dễ gây dị ứng.
Các yếu tố thuận lợi: cơ thể suy yếu, dinh dưỡng kém, nhiễm lạnh đột ngột.
2.Triệu chứng lâm sàng
a.Toàn thân: cảm giác mệt mỏi, sốt nhẹ, gai rét ớn lạnh, nhức đầu và ăn ngủ kem.
b.Cơ năng:
Cảm giác nóng cay hoặc ngứa mũ
Ngạt mũi thường ngặt tắc 2 bên, có khi chỉ 1 bên, bị nhiều về đêm, có khi thở bằng miệng.
Chảy nước mũi thường là 2 bên, lúc đầu trong sau có thể thành dịch nhầy hoặc mủ. Nếu xì mạnh có thể thấy máu tươi.
Ngửi kém hoặc mất ngửi do ngạt tắc mũi gây ra. Khi bệnh nhân thở thông chức năng ngủi lại bình thường.
c.Thực thể:
Soi mũi thấy niêm mạc hốc mũi sung huyết, đỏ sau thành nề sũng.
Sàn mũi và khe mũi dưới có dịch nhầy hoặc mủ ứ đọng, khe sau không có mủ.
Cuốn mũi dưới 2 bên thường bị sưng nề, đỏ che kín của mũi, nếu đặt thuốc co mạch cuốn mũi có thể co hồi tốt và lại thở bình thường
3.Điều trị
Nghỉ ngơi giữ ấm nâng cao thể trạng là chủ yếu.
Chống ngạt mũi bằng các dung dịch xịt hay hút, rửa mũi để làm sạch chất dịch tiết và mủ, nhỏ các thuốc co mạch như: Ephedrin 1-3%, naphozolin 0,05-0,1%. Hay các dung dịch khác như Sunfarin, Nacl 0.9%..
Nhỏ các thuốc sát trùng nhẹ: dung dịch kháng sinh, argyrol 1-3%.
Xông hơi bằng các thuốc có tinh dầu như bạc hà, khuynh diệp…
Khí dung bằng dung dịch kháng sinh kết hợp coticoi…
Các thuốc điều trị triệu chứng như đau đầu, giảm ho..
Chỉ định dùng kháng sinh khi có bội nhiễm hoặc biến chứng.
----------------------
Câu 2 . Trình bày dịch tễ , nguyên nhân và triệu chứng của K vòm họng.
1.Dịch tễ học:
Trên thế giới: có 3 vùng mắc bệnh này với tỉ lệ khác nhau: vùng có tần số mắc cao nhất là Đông Nam Á, TQ, Hồng Kong , VN, Philippin, Singgapore, và ở vùng Đông Bắc châu Phui.
Ở VN: K vòm họng là một trong 5 loại K hay gặp nhất.
Tỉ lệ mắc khoảng 10% so với K toàn thể.
Là loại K hay gặp nhất trong vùng tai-mũi-họng thuộc đường tiêu hóa và hô hấp trên.
Về giới tính nam nhiều hơn nữ. Tỉ lên là 3/1.
Tuổi thường là 45-55. Thấp nhất là 4 và cao nhất là 84.
Bệnh có ở khắp mọi tỉnh mọi miền tất cả các vùng và dân tộc.
2.Nguyên nhân:
- Do vius Epstein-Barr(V.E.B-E.B.V): E.B.V thuộc nhóm virus herpest gây bênh M.I ở châu Mỹ, Bệnh L.B ở Châu Phi, và N.P.C –K vòm họng ở châu Á.
Người ta phát hiện được gen (AND) của E.B.V ở trong tế bào, tổ chức K vòm họng
- Do gen di truyền: N.P.C gặp nhiều ở cá thể gốc đông Nam á dù di cư sang châu Âu hay mỹ thì vẫn có tỉ lệ cao hơn dân bản địa. hiện nay đã tìm thấy sự rối laonj cấu trúc của NST và các đoạn gen đặc trưng trên H.L.A.
- Các yếu tố nguy cơ liên quan:
+ nhiễm trùng tai mũi họng mãn tính dai dẳng.
+ Điều kiện kinh tế mức sống thấp.
+ Người sống ở vùng có nguy cơ mắc N.P.C cao.
+ Làm nghề cao su, nhựa tổng hợp.
Dùng nhiều các loại thực vật, tinh dầu..
+ Các sản phẩm đốt cháy: khói, hơi C, dầu hỏa, hương trầm, hương muỗi.
+ Đặc biệt là ăn thường xuyên các thức ăn lên men, chua ôi thiu. Trong đó có nhiều Nitrosamine như cá muối, thịt kho, thịt hun khói, nước mắm…
3. Triệu chứng:
Có 2 đặc điểm là các triệu chứng mượn của tai, mũi hạch cổ và thần kinh. Bệnh thể hiện thường ở một bên:
a. Các dấu hiệu về mũi:
Tắc mũi một bên tăng dần.
Xì mũi ra nhầy lẫn máu thỉnh thoảng kéo dài.
Khịt khạc nhầy lẫn máu.
b. Các dấu hiệu về tai:
Ù tai tiếng nói trầm một bên.
Nghe kém ở một bên.
Viêm tai thanh dịch.
Chảy tai nhầy.
c. Hạch cổ to:
Thường xuất hiện cùng bên với khối u.
Có thể xuất hiện sớm nhất trước cả các dấu hiệu trên và khối u vòm.
Vị trí hạch về dãy cảnh trên, hạch dưới cơ nhị thân- kutner.
Ở giai đoạn muộn có thể có nhiều hạch ở cả 2 bên thể tích hạch to dần cứng dính, cố định.
d. Các dấu hiệu thần kinh:
Đau đầu xuất hiện sớm cùng với bên khối u, đau đầu âm ỉ, lúc đầu còn chịu tác dụng của thuốc giảm đau, giai đoạn muộn cơn đau dữ dội ít chịu tác dụng của thuốc giảm đau.
Liệt các dây thần kinh sợ não.
Các dây thường bị liệt và hay gặp sớm là dây V, VI.
Sau đó là các dây III, IV,IX, X, XI, XII.
Có thể liệt cả 12 đôi dây sọ cùng bên.
----------------------
Câu 3. Nguyên nhân triệu chứng điều trị viêm V.A cấp.
1. Nguyên nhân:
- Nguyên nhân hàng đầu là do virut hay gặp là các loại: adenovirus, virut cúm, virut á cúm…
- Nguyên nhân đứng đầu là hemophilus influenzae, phế cầu. liên cầu lưu ý đặc biệt là liên cầu khuẩn tan huyết Beta nhóm A.
- Ngoài ra Va còn có rất nhiều yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đó là yếu tố nội tạng như cơ địa, tạng tân, và những yếu tố ngoại lai như thời tiết nóng ẩm, bụi khói thuốc…
2. Triệu chứng:
Viêm VA cấp tính là bệnh gặp ở trẻ em 3 tháng tuổi và 3-4 tuổi.
- Toàn thân: rất rõ rệt là trẻ thường sốt cao 38-39độ. Có khi tới 40 độ. Trẻ con quấy khóc biếng ăn, ít khi ỉa chảy hoặc nôn chớ.
- Cơ năng: rất rõ rệt là:
+ Chảy mũi nhầy hoặc mũi mủ cả 2 mũi trước và sau.
+ Ngạt mũi có khi ngạt 1 bên có khi cả 2 bên làm trẻ bú khỏ khăn, thở khó khăn, trẻ quấy khóc vật vã và phải há mồm để thở.
+ Ho có thể là do nước mũi chảy xuống họng và thanh quản.
- Triệu chứng thực thể:
+ Soi mũi trước: thấy hốc mũi 2 bên đầy mủ nhầy, rất khó nhìn thấy trực tiếp VA do mũi trẻ con nhỏ.
+ Khám họng: thấy niêm mạc họng đỏ, có thể thấy mủ hoặc lớp dịch nhầy như là nước cháo chảy từ vòm họng xuống họng. trong đợt cấp không nên sờ vòm họng.
+ Khám tai: có thể thấy màng nhĩ mất bóng sáng, hơi lõm do tắc màng nhĩ. Khám hạch góc hàm thường thấy hạch rãnh cảnh và sau cơ ức đòn chũm.
3. Điều trị:
Điều trị như một viêm mũi cấp, phần lớn do virus nên dùng kháng sinh không cần thiết, trừ khi bội nhiễm hoặc đe dọa biến chứng.
Nhỏ mũi thuốc sát trùng nhẹ: Argyrol 1%, ephedrin 1%, adrenalin 0,1%. Hạ nhiệt an thần nếu có sốt cao.
----------------------
Câu 4. Nguyên nhân, triệu chứng điều trị viêm A cấp.
1. Nguyên nhân
- Nguyên nhân hàng đầu là do virut hay gặp là các loại: adenovirus, virut cúm, virut á cúm, hemophilus influenzae, phế cầu. liên cầu lưu ý đặc biệt là liên cầu khuẩn tan huyết Beta nhóm A.
- Một tác nhân gây bệnh có thể gây ra nhiều bệnh cảnh lâm sàng lại có thể do nhiều tác nhân gây ra. Bệnh bắt đầu bằng nhiễm virut sau đó bội nhiễm vi khuẩn. do vậy phải đề ra phương pháp điều trị đúng đắn phù hợp từng vùng, từng thời gian cần làm xét nghiệm vi khuẩn làm kháng sinh đồ.
- Ngoài ra Va còn có rất nhiều yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đó là yếu tố nội tạng như cơ địa, tạng tân, và những yếu tố ngoại lai như thời tiết nóng ẩm, bụi khói thuốc, sức đề kháng của cơ thể kém, kém dinh dưỡng…
2. Triệu chứng:
Thực chất đây là một viêm họng khu trú ở trẻ em.
- Triệu chứng toàn thân: bệnh nhân bắt đầu đột ngột với cảm giác gai rét rồi sốt nóng 39-40 độ, đau họng khó nuốt, người mệt mỏi, nhức đầu chán ăn.
- Triệu chứng cơ năng: nóng rát trong họng ở vị trí amidan sau đó trở nên rõ rệt, nuốt đau lên tai đau tăng lên khi nuốt , thở hơi khò khè, đờm rãi tiết nhiều. viêm nhiễm có thể lan xuống hạ họng, thanh khí quản gây ho từng cơn kèm theo khản tiếng.
- Triệu chứng thực thể:
Dùng đè lưỡi ấn lưỡi ta thấy toàn bộ niêm mạc họng đỏ rực. Amidan sưng to và đỏ. Phần lớn thể này do virut nếu có kèm thêm đau mắt đỏ càng nghĩ là virut, nếu do nhiễm khuẩn trên bề mặt amidan có nhiều chấm mủ hoặc mủ như váng cháo
Hạch góc hàm sưng to và đau. Thường thể này do vi khuẩn cần phân biệt với bạch hầu nên nhất thiết phải lấy giả mạc thử vi khuẩn.
Đặc biệt cần lưu ý amidan do liên cầu khuẩn Beta tan khuyết nhóm A vì thể này không có biểu hiện đặc biệt. có rất nhiều kiểu thể hiện từ nhẹ đến nặng nhưng có thể gây biến chứng thấp khớp thấp tim.
3. Điều trị:
Nghỉ ngơi ăn nhẹ giảm đau, an thần hạ nhiệt.
Dùng kháng sinh cho các trường hợp nghi ngờ do vi khuẩn đặc biệt là liên cầu như Penicilin, rovamicine… có thể uống hoặc tiêm. Nhất thiết dùng đủ liều và thời gian để tránh biến chứng
Xúc họng bằng dung dịch kiềm nhẹ.
----------------------
Câu 5. Nguyên nhân triệu chứng và điều trị viêm tai giữa cấp.
1. Nguyên nhân:
Nguyên nhân viêm tai giữa có mủ là do viêm họng.
VA là nguyên nhân quan trọng nhất ở trẻ em.
Các bệnh nhiễm trùng toàn thân như cúm sởi.
Các bệnh lý kế cận như viêm xoang, u vòm họng mũi.
2. Triệu chứng:
- Giai đoạn xung huyết:
+ Toàn thân:
Hội chứng nhiễm trùng
Hội chứng viêm nhiễm đường hô hấp trên cấp.
+Cơ năng:
Đau tai mức độ vừa
Có thể kèm theo ù tai và nghe kém.
+Thực thể:
Khám màng nhĩ thấy xung huyết đỏ vùng rìa có mạch máu chạy dọc theo cán búa và màng trùng.
- Giai đoạn ứ mủ:
+Toàn thân:
Hội chứng nhiễm trùng biểu hiện rõ hơn với sốt cao co giật.
Viêm mũi họng.
Rối loạn tiêu hóa, ỉa chảy.
+Cơ năng:
Đau tai càng ngày càng tăng, đau rất nhiều, đau sâu trong tai, lan ra sau hoặc lên thái dương.
Nghe kém là triệu chứng quan trọng và thường xuyên xuất hiện, kiểu dẫn truyền.
Ù tai chóng mặt có thể xuất hiện.
+Thực thể:
Khám màng nhĩ toàn bộ màng nhĩ nề và đỏ, mất nón sáng. Màng nhĩ phồng lên hình mặt kính đồng hồ. màng nhĩ mầu vàng nhạt hoặc trắng bệch.
Điểm đau sào bào (+).
- Giai đoạn vỡ mủ:
+Các triệu chứng toàn thân và cơ năng giảm hẳn khj mủ đã đc tháo ra ngoài.
+Thực thể:
Ống tai ngoài có mủ chảy ra màu vàng nhạt, màng nhĩ có lỗ thủng.
3. Điều trị:
- Giai đoạn xung huyết: điều trị viêm nhiễm ở vùng mũi họng( VA).
- Giai đoạn ứ mủ: trích rạch màng nhĩ dẫn lưu mủ ở vị trí góc trước dưới.
- Giai đoạn vỡ mủ:
+ Làm thuốc tai.
+ Dẫn lưu mủ.
+ Làm sạch mủ.
Nạo VA sau khi tai khô được 2 tuần.
Đọc thêm!
Ngũ quan
Câu 1: Anh chị hãy trình bày sự hiểu biết của mình về bệnh viêm mũi mạn tính thể tà khí lưu lâu, khí trệ huyết ứ
* Triệu chứng:
Cuốn mũi sưng, cứng, lồi lõm không bằng phẳng, mũi tắc không ngừng, chảy mũi liên tục, nước mũi màu vàng hoặc trắng dính, khứu giác giảm sút, nói giọng mũi, ho nhiều đờm, tai ù, chất lưỡi đỏ hoặc có điểm ứ huyết, mạch huyền tế.
* Phân tích triệu chứng:
Nhiệt độc lâu ngày không giải cứu được, ứ đọng ở mũi, khiến cho khí huyết ở đây bị ứ trệ, làm cho cuốn mũi sưng, cứng, đỏ. Thấp trọc đình lưu ở mũi còn xâm phạm sang phế do đó ngoài việc chảy nước mũi còn gây ho, đờm nhiều. Trọc tà che lấp thanh khiếu làm cho tai không nghe thính.
* Pháp điều trị: Điều hòa khí huyết, hành trệ hóa ứ
* Điều trị:
- Thuốc uống: Đương quy thược dược thang gia giảm: đương quy, Bạch truật, phục linh, xích thược, xuyên khung, uất kim, khương hoàng, tân di, thương nhĩ tử, trạch tả, bạch chỉ.
- Thuốc ngoài: sử dụng các thuốc tân ôn thông khiếu, khu phong tán hàn (tân di, tế tân, xuyên khung) tán thành bột mịn rồi thổi mũi ngày 2-3 lần.
- Châm cứu:
+ Châm: nghinh hương, hợp cốc, thượng tinh. Nếu đau đầu nhiều nên phối hợp với phong trì, thái dương, ấn đường. Kích thích trung bình, lưu kim 15, ngày 1 lần
+ Cứu: huyệt nhân trung, nghinh hương, phong phủ, bách hội.
* Phòng bệnh:
- Rèn luyện thân thể, tăng cường thể chết, tránh bị cảm, nhiễm lạnh, tích cực điều trị các bệnh mũi từ khi mới mắc.
- Kiêng rượu, chú ý ăn uống vệ sinh sạch sẽ, tránh các nơi nhiều bụi
- Tránh lạm dụng các thuốc vận mạch để nhỏ mũi, tránh xì mũi quá mạnh, xì sai cách sẽ đẩy dịch tiết vào trong tai.
-------------------------------------------------
Câu 2: Anh chị hãy trình bày sự hiểu biết của mình về ù tai điếc tai thể phong nhiệt
* Triệu chứng: Bệnh khởi phát tương đối nhanh, người bệnh cảm thấy tỏng tai căng tức, tắc tị, sức nghe giảm sút trong khi tiếng ồn trong tai rất to. Khám tai có thể thấy màng nhĩ hơi đỏ, cũng có khi không thấy gì đặc biệt. Có thể thấy đau đầu, sợ lạnh, sốt, miệng khô, mạch phù đại, rêu lưỡi trắng mỏng hoặc vàng mỏng.
* Pháp điều trị: sơ phong thanh nhiệt tán tà
* Điều trị
- Thuốc uống: Ngân kiều tán: Liên kiều 8 - 12g, Cát cánh 6 - 12g, Trúc diệp 6 - 8g, Kinh giới tuệ 4 - 6g, Đạm đậu xị 8 - 12g, Ngưu bàng tử 8 - 12g, Kim ngân hoa 8 - 12g, Bạc hà 8 - 12g, Cam thảo 2 - 4g.
- Dùng ngoài: Dùng nước thạch xương bồ tươi nhỏ vào tai
- Châm cứu: Châm tả các huyệt thượng tinh, nghinh hương, hợp cốc, lưu kim 15’, ngày 1 lần.
* Chăm sóc hộ lý và dự phòng:
- Ăn uống, tình chí, nơi ở cần chú ý
- Chú ý khi tham gia giao thông
-------------------------------------------------
Câu 3: Ù tai điếc tai thể can đởm thượng kháng
* Triệu chứng:
Tai ù như tiếng sóng, cũng có khi như tiếng sấm, tiếng gió, thính lực giảm lúc nhiều lúc ít, sau mỗi lần uất ức, căng thẳng triệu chứng lại nặng lên. Kèm theo các triệu chứng căng tức đau trong tai, đau đầu chóng mặt, mặt đỏ, mắt đỏ, miệng đắng họng khô, đêm ngủ không yên, phiền táo, ngực sườn đầy tức, đại tiện táo, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác hữu lực.
* Pháp điều trị: Thanh can tiêt nhiệt, khai uất thông khiếu
* Điều trị: Long đởm tả can gia thạch xương bồ
(Long đởm, mộc thông, sài hồ, chi tử, hoàng cầm, trạch tả, sinh địa, cam thảo, đương quy, xương bồ)
Nếu can khí uất kết mà hóa nhiệt còn nhẹ có thể dùng phép sơ can giải uất, thông khiếu bằng cách dùng bài Tiêu dao tán gia Mạn kinh tử, thạch xương bồ, hương phụ.
(Tam bạch, sài, qy, bạc hà, cam thảo, sinh khương, mạn kinh, xương bồ, hương phụ)
* Chăm sóc hộ lý và dự phòng:
- Ăn uống, tình chí, nơi ở cần chú ý
- Chú ý điều tiết tâm lý
- Chú ý khi tham gia giao thông
-------------------------------------------------
Câu 4: ù tai , điếc tai thể đàm hỏa uất kết
* Triệu chứng:
Ù tai bên tai không ngừng, hai tai có cảm giác không nghe rõ âm thanh, chóng mặt nặng đầu, ngực bụng đầy chướng, ho có đờm nhiều, miệng đắng hoặc nhạt, nhị tiện không thông, lưỡi đỏ rêu vàng dầy, mạch huyền hoạt.
* Pháp điều trị: Thanh hỏa hóa đàm, hòa vị giáng trọc
* Điều trị: Nhị trần thang gia vị (thanh khí hóa đàm hoàn?)
Hoàng cầm, hoàng liên, chỉ thực, qua lâu nhân, nam tinh chế, hạnh nhân
* Chăm sóc hộ lý và dự phòng:
- Ăn uống, tình chí, nơi ở cần chú ý
- Ăn ít đồ béo ngọt, đề phòng tích trệ lại thành đàm làm bệnh tình nặng thêm
- Chú ý khi tham gia giao thông
-------------------------------------------------
Câu 5: ù tai , điếc tai thể thận tinh bất túc
* Triệu chứng:
Trong tai có cảm giác ve kêu, đêm ngày không nghỉ, có khi thấy hư phiền mất ngủ, thính lực giảm từ từ, chóng mặt, mắt mờ, lưng gối mỏi. Là nam có thể thấy di tinh. Là nữ có thể thấy khí hư. Tiêu hóa kém, chất lưỡi đỏ, ít rêu, mạch vi tế hoặc tế sác.
* Pháp điều trị: Bổ thận ích tinh, tư âm tiềm dương
* Bài thuốc: Lục vị gia ngũ vị tử, từ thạch
* Chăm sóc hộ lý và dự phòng:
- Ăn uống, tình chí, nơi ở cần chú ý
- Chú ý dinh dưỡng đầy đủ, nghỉ ngơi, giảm bớt sinh hoạt tình dục, hạn chế ăn những đồ ôn táo.
- Chú ý khi tham gia giao thông
-------------------------------------------------
Câu 6: ù tai điếc tai thể tỳ vị hư nhược
* Triệu chứng:
Ù tai điếc tai, khi mệt mỏi bệnh tăng. Trong tai có cảm giác trống rỗng mà lạnh. Người mệt mỏi, ăn kém ăn xong đầy bụng, đại tiện lỏng, sắc mặt vàng úa, chất lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch hư nhược.
* Pháp điều trị: Kiện tỳ, ích khí thăng dương
* Điều trị
- Thuốc: Bổ trung ích khí gia thạch xương bồ
- Châm cứu:
+ chọn huyệt Nhĩ môn, thính cung, ế phong, trung chữ, ngoại quan, âm lăng tuyền, túc lý, tam âm giao. Chọn mỗi lần 2-3 huyệt. Thủ thuật bổ tả tùy theo nguyên nhân gây bệnh. Nếu thuộc hàn có thể cứu.
+ Nhĩ châm: Chọn các huyệt Tai trong, thận, can, thần môn, châm 15-20’/ngày, 15 ngày là 1 liệu trình
* Chăm sóc hộ lý và dự phòng:
- Ăn uống, tình chí, nơi ở cần chú ý
- Chú ý điều tiết ăn uống.
- Chú ý khi tham gia giao thông
-------------------------------------------------
Câu 7: Viêm tai giữa mạn tính thể can kinh thấp nhiệt
*TC: Tai đau nhức, chảy mủ đặc, dính, hôi, lượng nhiều. Rêu lưỡi vàng, chất lưỡi bệu.
*Chẩn đoán:
- BC: Biểu, thực, nhiệt
- Kinh lạc: Kinh can
- Bệnh danh:Nhĩ nùng
*Pháp: Thanh can lợi thấp
* Phương: Long đởm tả can thang
16g: Kim ngân hoa
12g: Long đởm thảo, Hoàng cầm, Sa tiền tử, Sinh địa, Mộc thông, Trạch tả, Liên kiều.
8g: Chi tử, Sài hồ, Đương quy
4g: Cam thảo
- Nếu thiên về thấp thịnh thì bỏ Sinh địa gia: Ý dĩ 16g, Thạch xương bồ 4g, Thuyền thoái 4g, Thương truật 8g.
- Nếu kèm huyết hư gia: Đào nhân 8g, Địa long 8g, Miết giáp 16g, Đan bì 12g.
-------------------------------------------------
Câu 8: VTG thể thận hư hay âm hư hỏa viêm:
* TC: Mủ chảy thường xuyên, mủ loãng, tai ù, nghe kèm, hoa mắt, chóng mặt, đau lưng mỏi gối, ngủ ít hay quên, rêu lưỡi mỏng, mạch tế sác.
* Chẩn đoán:
- BC: Biểu lý tương kiêm, thực, nhiệt
- Tạng phủ: Thận
- Bệnh danh: Nhĩ nùng
* Pháp: Bổ thận thông khiếu, dưỡng âm thanh nhiệt
* Phương: Tri bá địa hoàng
Thục địa 12g, Hoài sơn 16g, Trạch tả 8g, Phục linh 8g, Sơn thù 8g, Tri mẫu 8g, Đan bì 8g, Hoàng bá 8g.
Sắc uống ngày 1 thang hoặc làm viên uống 18g/ngày chia làm 3 lần (uống kéo dài)
-------------------------------------------------
Câu 9: Viêm họng mạn tính
* Nguyên nhân: Do đàm lâu ngày làm tổn thương phế âm gây nên bệnh
* TC: Họng khô, cảm thấy khó chịu, niêm mạc họng có những điểm xung huyết đỏ nhạt, hạt lympho rải rác.
(Thêm: Thể trạng gầy, ngũ tâm phiền nhiệt, triều nhiệt, mồ hôi trộm, gò má đỏ, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Tế Sác)
* CĐ:
- BC: Lý, hư, nhiệt
- Tạng phủ: Phế âm
- Bệnh danh: Hầu tý
* Pháp: Dưỡng âm, thanh nhiệt, hóa đàm
* Phương:
16g: Sinh địa, Huyền sâm
12g: Mạch môn, Thạc hộc, Hoàng cầm, Kê huyết đằng, Cam thảo nam
8g: Tằm vôi, 6g: Xạ can
- Châm cứu: Thiên đột, Xích trạch, Thái uyên, Túc tam lý, Tam âm giao.
-------------------------------------------------
Câu 10: Viêm niêm mạc miệng thể thực hỏa
* Nguyên nhân: Tâm tỳ hỏa độc, nhiệt độc.
* TC: Vết loét đỏ, sưng, có thẻ có màu trắng (có mủ). Đau nóng rát tại chỗ, tăng khi ăn đồ cay, nóng, mặn. Khô miệng, tiểu tiện đỏ, đại tiện hay táo. Hơi thở hôi, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác.
* CĐ:
- BC:Lý, thực, nhiệt
- TP: Tâm, Tỳ
- Bệnh danh: Khẩu cam
* Pháp: Thanh nhiệt tả hỏa ở tâm tỳ
* Phương:
Thạch cao 20g,
16g: Sinh địa, Huyền sâm, Trúc diệp. 12g: Chút chít, Ngọc trúc, Mộc thông.
Cam thảo nam 10g, Hoàng liên 8g.
Sắc uống, ngày 1 thang
-------------------------------------------------
Câu 11: Viêm niêm mạc miệng thể hư hỏa
* Nguyên nhân: Thận âm hư, vị âm hư, tân dịch giảm
* TC: Vết loét hơi đỏ, niêm mạc sưng nhẹ, đau ít, khi mệt nhọc dễ tái phát. Có cảm giác háo khát, mệt mỏi, nóng trong, chất lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng, mạch Tế sác.
* CĐ:
- BC: Lý, hư, nhiệt
- Tạng phủ: Thận, Tỳ
- Bệnh danh: Khẩu cam
* Pháp: Dưỡng âm thanh nhiệt
* Phương:
16g: Sinh địa, Hạ liên thảo. 12g: Sa sâm, Huyền sâm, Mạch môn, Ngọc trúc.
10g: Tri mẫu, 8g: Hoàng bá, Đan bì. Cam thảo 4g.
- Mất ngủ gia: Táo nhân, Thảo quyết minh
- Táo bón gia: Vừng đen, Đại hoàng.
Đọc thêm!
Lão khoa
Sinh viên: Phạm Duy Đức
Lớp: ĐHK2-Y5C
Bài kiểm tra 15 phút
Môn: Lão khoa YHCT
Đề bài (đề mở): Dựa vào kiến thức Lão khoa YHCT hãy biện chứng luận trị bệnh rối loạn Lipid máu thể đàm trệ.
Bài làm:
Các chứng: thể trạng béo bệu, miệng dính khó nuốt, lưỡi dính nhớt biểu hiện cho tình trạng Đàm thấp trong cơ thể quá nhiều.
Các chứng: Bụng chướng, khó nuốt, nôn mửa, buồn nôn, tức ngực là biểu hiện của chứng Trệ. Đàm sinh ra do Vị dương không tiêu hóa, Tỳ dương không vận hóa được hết thủy cốc (do lượng thủy cốc đưa vào quá nhiều hoặc Tỳ Vị hư suy), phần còn lại hóa đàm đình trệ trong cơ thể. Tính của Đàm là: nặng, đục, dính, trệ cho nên Đàm thấp nhiều, không được thanh thải ra ngoài, ở lại Tỳ vị làm trở trệ hung cách mà gây đầy bụng, tức ngực. Làm Vị khí không thông sướng, nghịch lên mà gây chứng khó nuốt, lợm giọng, buồn nôn.
Đàm là sản phẩm bệnh lý do sự rối loạn vận thủy dịch trong cơ thể, mà thủy dịch chịu sự chi phối của Tỳ, Phế, Can, Thận. Trong đó, Tỳ là trung tâm chuyển hóa thủy dịch, Can, Phế, Thận giúp cho việc vận hóa và phân phối thủy dịch đi khắp cơ thể. Vì chưa có chứng hậu ở Can, Phế, Thận nên thể bệnh này chủ yếu ở Tỳ Vị. Mạch Huyền hoạt, hữu lực chứng tỏ bệnh mới mắc, thuộc chứng thực.
Pháp điều trị cần táo thấp, hóa đàm ở Tỳ vị để tiêu đầy, tán kết.
Trệ nhiều gây đầy trướng hung cách nên phải lý khí thông điều khí cơ, khí thuận thì đàm dễ tiêu. Lợi thủy giáng trọc để đưa đàm thấp ra ngoài. Người già lục phủ ngũ tạng đều suy yếu nên chú ý kiện Tỳ, bổ thận dương để ôn ấm Tỳ vị.
Giảm lượng thủy cốc đưa vào cơ thể: hạn chế ăn đồ béo ngậy, tăng cường thực phẩm thanh đạm.
Tăng cường rèn luyện thể lực, khí cơ thông sướng thì không sinh đàm.
Đọc thêm!Kinh nghiệm và cách tổ chức học lâm sàng (tiếp)
ĐC biên bài rất lấy làm buồn phiền vì các ĐC chỉ hóng mà hông bật ĐC biên bài câu nầu, sự kiện đó chỉ thị cho việc đọc thụ động của các ĐC hoặc ĐC biên bài biên tuyền đúng hehe (thả boom tí cho tăng phần nhã hứng).
Phi bệnh nhân bâu gồm những gì Nhúc-Nhích và Không-Nhúc-Nhích có ảnh hưởng đến bệnh nhân. Kính bấu với các ĐC là nó quá rộng ngay cả đối với ĐC biên bài đẹp trai (lại nổ đấy, ngán gì!), do đó ĐC biên bài chỉ đi sâu làm rõ một vài những Phi bệnh nhân mà ai cũng thấy đấy là ai (vật&việc) thôi nhé (khi ĐC biên bài nói thế thì các ĐC hóng bài cần nhớ là tồn tại những Phi bệnh nhân mà chỉ 1 vài ai mới biết đấy là ai).
Phi bệnh nhân Nhúc-Nhích: Bâu gồm toàn bộ những gì chuyển động tương đối với bệnh nhân. Như vậy Nàng gió, Chàng nắng cũng được xếp vào nhóm Nhúc-Nhích này. Dưng đừng vội quan tâm đến những cô chàng đỏng đảnh đó, Nhúc-Nhích đầu tiên cần tìm hiểu là Bác sỹ phụ trách buồng.
Đây là Nhúc-Nhích- Được-Nhìn-Thấy * nắm rõ bệnh cảnh của bệnh nhân hơn ai hết, đơn giản họ thực sự là Ông King ở buồng bệnh bởi họ có quyền ngang Ông Giời, sửa chữa bảo trì những cỗ máy mà Ông Giời đã tạo ra. Các ông King này không ăn ngủ nghỉ tại xó của mình, thế nên để diện kiến King-Ẩn Y-bé phải hỏi bệnh nhân King thường đi thị sát vầu những ngày nào? Và mấy giờ nhế. Ông King này hiểu rõ nhất và đôi khi là nguyên nhân làm bệnh nhân ị chảy suốt tối qua. Và quan trọng hơn hết, King là người nắm rõ hậu trường vở diễn bệnh tật. King thấy rõ những kỹ xảo để làm nên cơn ho ông ổng của thằng Phổi, những cơn đau thắt ngực của con Tim, những cơn điên khùng của lão Đầu lâu. Các Y-bé nhao nhao lên rằng đọc Tỷ chứng học, Giải phẫu bịnh mới cả Bịnh học là biết, đếch cần King. Y-bé hỗn, đọc kỹ nhời ĐC biên bài, King “thấy” và Y-bé “biết” cách nhau một cơ số năm đấy nhế. Y-bé chỉ có thể mô tả được tiếng Rale, tiếng Thủi, tiếng Lạo xạo trên bài thi dưng Y-bé nhất định hông nghe được chúng trên bệnh nhân. Một số ĐC Y-bé lại nhấp nhổm, nghe trên bệnh nhân rùi so sánh mới sách mô tả là xác định được, đếch cần King. Y-bé này rất có tinh thần tự học, dưng kính bấu với ĐC rằng sách là hình ảnh chụp lại của thực tế, nó hông phải thực tế mà đặc biệt là sách VATờMờ nhà ĐC.
King là quyển sổ tay mô tả ông bệnh nhân thực tế. Các ĐC chẳng thể kiếm đâu được một quyển thứ hai, King dất quý và hehe đôi khi còn đẹp giai như ĐC biên bài nữa, giờ Y-bé đã ham King chưa? Ham rùi thì Y-bé tưởng tượng xem mình sẽ tìm cách moi tin từ quyến sổ ấy như nào rồi biên những tưởng tượng của mình vào comment nhế. Các ĐC Y nhỡ đã tiếp xúc mới King đừng phàn nàn với ĐC biên bài về những cái mẹt King lạnh lùng khó gần, ĐC biên bài chắc chắn là ĐC chưa bâu giờ tìm cách để cái mẹt King đó bớt lạnh lùng với mình. Lười hông có kẹo mút đâu.
King tuyên án và Y tá thi hành án có phỏng, vì Y tá thường là nữ nên sau đây ĐC biên bài sẽ âu yếm gọi các Y tá là Queen. Các Queen hông cần biết chính xác tại sao bệnh nhân lại ho, họ biết cách làm đúng Y lệnh của King. Và khi họ không thích làm đúng thì hehe phiền nhiều đấy. Y-bé sẽ được học cách xử lý việc này khi Y-bé trở thành King. Bây giờ, Y-bé chỉ học cách mượn được Qeen cái xilanh, cây kim, cái sonde, cái kéo và quan trọng nhất cái giường để ngủ đêm trực. Dĩ nhiên là Y-bé đã học Điều dưỡng trên mô hình rồi, nhưng để thành thạo được tất cả các kĩ năng đó thì tốn ít nhất là 1 tháng làm việc trên bệnh nhân. Và sau đây là chiến lược để làm thân với Queen.
Lại là những kỹ năng giao tiếp thôi, ngày đầu tiên tới khoa vào phòng bệnh nhớ chào nhế, ĐC biên bài còn phải nhai lại món chào hỏi này nhiều với Y-bé và VATM. Ngày đầu phải trinh sát xem cách mắc dây chuyền, cách lấy thuốc, cách xé cách dán băng dính, cách buộc dây... của Queen từng chi tiết nhỏ như vậy đấy, không thừa đâu. Không phải bao giờ các Queen cũng làm y xì như những gì Y-bé đã học. Ngày thứ 2 hãy bắt đầu chiến dịch Y-bé xin phép được đo mạch, huyết áp, thân nhiệt cho bệnh nhân nhế, việc này nhanh thôi. Sau đó hãy chiển qua giúp Queen mắc dây chuyền, vậy là Y-bé đã tiến gần đến cái xilanh rồi đấy. Vậy nguyên tắc ở đây là “cứ từ từ”, hãy thể hiện để Queen đánh giá các ĐC. Đối với các Y-bé đang học châm kiú thì sao, thì “cứ từ từ” đừng vội châm chọc, mắc máy cho Queen đã, rùi chạm vào cơ thể bệnh nhân, chiên ngành ta gọi xoa bóp đới. Nhớ xin phép nhế, không Queen nào từ chối đâu. Vậy sau khi xin được việc làm ở chỗ Queen thì Y-bé có nhiều thời gian tiếp xúc với Queen rồi đấy, đừng làm Queen phật lòng, các Queen già dất hay khó ở và la mắng Y-bé, dù Y-bé có đúng thì cũng cấm cãi nhế, cắn lưỡi ngậm mồm lại vì cái giường ấm và cái quạt mát của chúng ta. Ah, những Y-bé chửa đi trực bâu giờ sẽ hỏi sao phải vì cái giường đêm trực? Muốn biết tại sao thì các ĐC bắt buộc phải nằm ngủ trên x cái ghế (x>3) xếp lại mới nhau, bố tướng hơn thì nằm bàn (cảm giác dất là bựa nhế) và dĩ nhiên hông thể thiếu bọn muỗi vào mùa hè và cái lạnh vầu mùa đông rồi. Mời Y-bé giải nghiệm, mời mời.
Nhúc-Nhích tiếp theo là người nhà bệnh nhân, đối với bệnh nhân không tự chăm sóc mình thì người nhà là người quan trọng nhất. Ăn ngủ ị đái đều người nhà hết, họ biết rõ bệnh nhân đôi khi còn hơn bệnh nhân nữa. Có đáng khai thác hông nầu?
Và, Nhúc-Nhích cuối cùng. Đó là những sinh vật đang đọc bài đây hehe. Đôi khi bỏn thật đáng yêu dưng ở buồng bệnh thì bỏn thực sự là những sinh vật khó ưa. Bỏn sẽ bu quanh ĐC bệnh nhân chân dài mà ĐC cất công tìm hiểu bấy lâu. Bỏn sẽ làm phiền ĐC chân dài đáng yêu ấy bằng chính những câu hỏi mà các ĐC đã hỏi vài ngày trước. Rồi các ĐC có cam tâm để bỏn sờ ngắm ngửi ĐC chân dài mà các ĐC quan tâm đặc biệt hông? Nếu hông thì ĐC biên bài dất muốn học cùng ĐC đấy hehe. Ti nhiên, không như những Nhúc-Nhích khác, bỏn ăn đời ở kiếp mới các ĐC suốt 6 năm liệu hồn mà “share” nhế (tiên sư ĐC nầu đang nghĩ bậy giống ĐC biên bài hehe, nghĩ bậy dất đáng bị ăn chưởi nát mẹt).
Ùi, ĐC biên bài mỏi tay mẹ, các ĐC Y-bé tranh thủ tìm hiểu Chàng Nắng mới Nàng Gió xem có gì dễ thương hông đi nhế. Đây là một vướn đề dất dài và dất sâu hẹn các ĐC một cơ số ngày.
* Tồn tại những Nhúc-Nhích-Hông-Được-Nhìn-Thấy đơn giản vì có Được-Nhìn-Thấy thì sẽ có đối lập của nó: Hông-Được-Nhìn-Thấy. Gì gì mà Âm Dương choảng nhau ấy nhở?
TT
Phạm Duy Đức Đọc thêm!
Kinh nghiệm và cách tổ chức học lâm sàng
Học lâm sàng là gì? Định nghĩa lâm sàng (LS) là gì thì trên mạng nhiều lắm, mỗi ông một kiểu, để dễ hiểu thì học LS là học ở phòng bệnh -Clinical (ti nhiên sẽ hơi khác với Y học trên Giời). Ở phòng bệnh có cái gì ta học cái đấy vì phòng bệnh là nơi mà chúng ta sẽ làm việc sau này, tường tận nó là điều kiện để kiếm được nhiều xiền (ôi xiền anh yêu em và nhớ em nhiều).
Nào mình cùng đi xe bus!
Một phòng bệnh điển hình ở VN trông như thế này:
Chú ý: Phòng bệnh không chỉ có bệnh nhân mà còn có người nhà bệnh nhân nhá.Bác sĩ và y tá sẽ xuất hiện vào những giờ nhất định và đặc biệt như này:

Và dĩ nhiên rất nhiều những tên đứng ngó như thế này:

Như vậy phòng bệnh có quá nhiều thứ để tìm hiểu có phỏng? Tìm hiểu nhá nót học, học là 1 từ có giới hạn.
Túm gọn lại thì đi học LS ta sẽ tìm hiểu 2 đối tượng:
1: Bệnh nhân
2: Phi bệnh nhân (đừng quên mấy tên cầu vai xanh đang ngó đít bệnh nhân trên kia).
Vậy sau khi đã xác định được phải tìm hiểu những gì ở phòng bệnh các đồng chí Y bé đã thích học LS chưa? Học lâm sàng đơn giản lắm!
Bây giờ đi vào từng đối tượng của LS: Bệnh nhân và Phi bệnh nhân. Ở đây ĐC biên bài sẽ làm rõ mục đích tìm hiểu và đưa ra các kỹ năng tìm hiểu các đối tượng này.
Bệnh nhân
Tìm hiểu cái gì ở bệnh nhân? Bệnh tật của bệnh nhân và các vấn đề khác.
Tìm hiểu cái gì ở bệnh tật của bệnh nhân? Tùy vào yêu cầu của môn học. Học vòng Triệu chứng (TC) thì quan tâm đến các TC, có những TC nào? Xuất hiện khi nào? Biểu hiện như nào? vòng này các đồng chí sẽ học Văn Tả Bệnh. Ở vòng Bệnh học thì lại quan tâm đến cách kiến tạo bệnh tật của Ông Giời, các đồng chí học Văn Phân Bệnh. Và cuối cùng vòng Điều trị các đồng chí học cách đưa ra giải pháp của mình đối với công trình mà Ông Giời đã ưu ái gửi đến cho các đồng chí, các ĐC học làm Bác sỹ.
Lý thuyết được học trên sách vở sẽ được kiểm chứng ở vòng LS, kiểm chứng nhé không phải áp dụng ,kiểm chứng là mang lý thuyết áp dụng vào thực tế. Ở vòng TC sau khi tả được vẻ đẹp và sự quyến rũ của các TC thì các ĐC còn phải xem nó khác nhau như nào giữa:
- Bệnh nhân cụ thể với bệnh nhân mô tả lý thuyết kinh điển.
- Bệnh nhân chân dài với bệnh nhân chân lông.
- Tuần trước và bây giờ
So sánh và định lượng TC là điều các ĐC chỉ học được trên LS.
Những vấn đề khác bao gồm những gì? Cái này lại tùy sở thích quan tâm của từng ĐC. Lại ví dụ: Bệnh nhân sinh tháng Cún tuổi Mèo chân dài không lông, tóc dài đen mềm mượt, đau thượng vị, chưa có người yêu, nhà sân vườn 5 tầng móng cọc nhồi số X- đường Y- quận Z- Hà Lội, pama nhiều Đô ít Đồng, đương kim Y1 VATM và hehe mới bỏ người yêu. Trừ đau thượng vị và mới bỏ người yêu, vấn đề khác mà các ĐC cần quan tâm là các vấn đề còn lại. Liu ý, đây chỉ là sở thích của ĐC biên bài, các ĐC Y bé hông nhất thiết phải có cùng sở thích giống ĐC biên bài.
Theo đó ta thấy, việc khai thác các vấn đề liên quan ngoài bệnh tật trước hết giúp chính các ĐC làm 1 cơ số việc sau đó giúp các ĐC nắm được các thuận lợi và trở ngại trong quá trình tác nghiệp của mình. Tiếp tục ví dụ trên, thuận lợi đối với bệnh nhân tưởng tượng trên của ĐC biên bài là nhà bệnh nhân chân dài nhiều xiền (anh lại nhớ em, xiền ơi!) do đó giá thành điều trị hông là vấn đề, ĐC biên bài có thể kê thêm một vài vị thuốc đắt xiền hơi cần thiết để nâng cao thể trạng bệnh nhân mà đối với BN ít xiền thì hông cần thiết. Trở ngại đối với BN trên là mới bỏ người yêu, tư duy ít mà lo lắng nhiều, và trở ngại trực tiếp là tâm lý u uất gây ra do tưởng tượng. Điều này làm ĐC biên bài băn khoăn băn khoăn.
Các ĐC sẽ hỏi tại sao ĐC biên bài lại hỏi được nhiều thế? Mời các ĐC ngâm kiú tiếp phần kĩ năng tiếp xúc BN.
Dường như việc trao đổi giữa BN và các ĐC là 1 chiều, các ĐC moi tin và BN xuất tin mà ít khi có điều ngược lại. Để hòa mình vào không khí hỏi LS các ĐC Y bé hãy search Youtube cụm “hỏi cung”. Các ĐC khác với BS, BS chỉ có 1 và BS đó có trách nhiệm với sức khỏe của BN nên họ dễ dàng moi móc thông tin 1 chiều mà hông trở ngại gì nhiều. Trong khi đó các ĐC đã đông như kiến lại cũng muốn moi tin mà chả mang lại cho họ lợi ích gì, họ sẽ trả lời các ĐC theo phép lịch sự và dĩ nhiên các ĐC hông thể moi được tin ĐC BN chân dài ở trên vừa bỏ người yêu. Vậy giải pháp là gì?
Số lượng SV quá đông sẽ làm giảm cơ hội tiếp xúc của các ĐC, điều này là một trăn trở của Nhà trường và ĐC biên bài nhưng kệ để đó đã hỉ. Và đây là giải pháp để xử lý món khó này: Tổ chức SV thành nhóm 3-5 SV, càng ít SV trong 1 nhóm càng tốt. Tốt nhất để các thành viên tự xếp nhóm với nhau vì hợp tuổi và thích nhau là điều quan trọng để hợp tác. Như vậy1 phòng bệnh có thể có tới 10 nhóm SV điều này thường thấy ở BV Tuệ Tĩnh, BV Bộ Công An, tuy nhiên mỗi nhóm chỉ hỏi 1BN và hông có gì là quá đông cho 1 BN cả.
Sau khi tổ chức được như thế các ĐC Y bé sẽ phải tiến hành tiếp cận BN, chân ní là “Mang đến và lấy”. Cầm theo 1 cái kẹp nhiệt độ cho BN sốt, 1 cái máy đo huyết áp cho BN tất cả các BN mà ĐC thích. Nhớ cầm theo quyển sổ, tốt nhất là quyển sổ ghi huyết áp mạch nhiệt của khoa (nếu có). Đầu tiên nhớ giới thiệu, cháu chầu bác, cháu là SV, bác cho cháu đo huyết áp ạ. Các SV nhà VATM hay quên món này, BN là người mà SV phải lịch sự như đối với người yêu vậy. Đo huyết áp xong hãy hỏi BN bình thường HA bác bâu nhiêu? Nếu hông cao lắm thì bẩu hông cao, nếu cao thì bẩu hơi cao nhỉ. Rùi sau đó cố tìm một điểm đặc biệt gì đó trên người BN để hỏi tiếp ví dụ như cái áo có Logo của Man chẳng hạn, cố tìm ra điểm chung hoặc điểm đặc biệt gì đó để bắt đầu. Dĩ nhiên là đừng sa đà quá về Hồng Sơn dạo này đá mất phong độ hay Lindsay Lohan mới mua kính, sau vài câu mào chuyển ngay sang “bác sỹ chẩn đoán bác bị bệnh gì ạ?”. Để ý thái độ của BN, nếu họ khó chịu với các ĐC thì các ĐC phải dừng đèn đỏ rùi đấy, đợi đi 1 chút nữa sẽ sang đèn Xanh. Nếu đèn Xanh bật sẵn thì mời phóng. Với BN là phụ nữ họ hay kể miên man về bệnh tật của mình, nhất là người trung niên, người già yếu quá hông còn hơi để kể nhiều. Đây là điểm có lợi và hãy bắt đầu câu chuyện, hông phải hỏi bệnh nhế “Nói Chuyện” .Cứ để họ nói và ngồi nghe, hãy ngắt lời khi muốn làm rõ điểm gì trong mạch câu chuyện. Cuộc nói chuyện này cấp tin cho phần Bệnh sử nổi tiếng trong Bệnh Án Muôn Đời Sai của SV chúng ta. Khi nào bắt đầu sờ gõ nghe? Khi nào ĐC cảm thấy đủ thân mật để bảo BN vén áo cởi quần? Sau khi BN hỏi “Pama cháu mần nghề gì? Nhà cháu nhiêu anh em? Sau ra trường có về quê hông? ...” những câu hỏi riêng tư chỉ thị cho sự thân mật. Vậy là tiếp xúc được với 1 BN rồi nhé. Từ BN này hãy bắt chuyện với các BN khác đơn giản rồi phải không nào các ĐC Y bé? Nói rồi mà học lâm sàng dễ lắm!
Tại sao việc làm quen thân mật này lại làm ĐC biên bài biên dài đến thế? Vì các ĐC cần hiểu việc tạo được mối quan hệ thân mật với BN quan trọng đến chừng nào. Việc học LS phải là việc theo dõi việc tiến triển bệnh tật của BN, nó thay đổi như thế nào?, TC nào mới?, TC nào mất? Nặng lên hay nhẹ đi? Điều này cần thời gian có thể là 1 tuần đôi khi là 1 tháng và việc có quan hệ sẽ giúp các ĐC thăm khám dễ dàng hơn trong 1 tuần, 1 tháng sau đó.
Thời gian đi trực là lúc mà các ĐC được thoải mái hỏi bệnh nhất, 8h tối lượn 1 vòng chỉ cần thăm hỏi bác ăn ngon không? cái chân còn đau không? Thế là đủ để củng cố cho mối quan hệ. Tập trung vào những BN ưu tiên, sự ưu tiên lại tùy từng ĐC có ĐC thích học TC điển hình, có ĐC thích học TC hông điển hình, ĐC biên bài thích học vẻ đẹp của BN chân dài hehe. Các ĐC Y bé đã thấy học LS vui chưa? Học lâm sàng thích lắm!
Phi bệnh nhân
Đây là vướn đề rất dài và rất sâu ĐC biên bài hẹn lần sau.
Một số cas bệnh tim biểu hiện trên điện tâm đồ
Mọi người xem trước để chuẩn bị thảo luận nhé.
Buổi thảo luận tổ chức vào sáng T5 (25-11) tuần này, lúc 8h.
Link down load
http://www.box.net/shared/nu15pptk09
Đáp án Đọc thêm!
Câu chuyện về 05 ông người mù nghiên cứu về 01 ông voi
Trong bài viết “Mấy dòng suy nghĩ về cách nhìn nhận của Phương Đông và Phương Tây” tôi đã nói về phương pháp nghiên cứu của Phương Đông và Phương Tây. Nếu xét trên quan điểm Âm-Dương thì với bất kể sự vật, sự kiện nào chúng ta đều có thể chia nó làm hai với hai đặc điểm đối lập nhau. Vậy Phương Đông và Phương Tây sẽ có 2 phương pháp nghiên cứu thế giới, mặc nhiên chúng ta có 2 phương pháp nghiên cứu con người. Phương pháp nghiên cứu con người của Phương Đông là gì? Tuyệt nhiên không thể là kinh nghiệm từ việc mổ trâu mổ gà và ngắm nhìn những chiến binh phòi ruột trên chiến trường được. Người ta dễ dàng gán Phương pháp nghiên cứu của Phương Đông là kinh nghiệm bởi kinh nghiệm là khó hiểu. Nhưng thử đưa ra 1 ví dụ về Khí : Từ kinh nghiệm nào mà người Phương Đông có kinh nghiệm về khí còn người Phương Tây thì không? Trong hàng ngàn năm tồn tại cùng với những ông hàng xóm Phương Đông tại sao Phương Tây lại không có 1 tí tẹo nghiên cứu nào về khí? Một nền Y học đứng vững hàng ngàn năm không thể chỉ dựa trên kinh nghiệm, nó phải có phương pháp. Buộc phải có một hệ thống các phương pháp thì kinh nghiệm về khí mới tồn tại và phát triển được. Chúng ta đang học về những sản phẩm của nền văn hóa Phương Đông vậy phương pháp để tạo ra những sản phẩm đó là gì? Phương Đông hiện tại quá lười để trả lời câu hỏi đó, và đó là lý do tại sao văn hóa Phương Đông đã và đang suy thoái.
Phương pháp của Phương Đông tôi đã trình bày trong bài viết đã dẫn trên. Đó là phương pháp để đạt tới cái nhìn của “ngộ”, sự giác ngộ ở mức cao, đạt đến sự thật hay chân lý về sự vật, sự việc. Đó là sự tri thức từ phía trên của bậc thang tri thức, nghĩa là ngộ ra việc tính diện tích bằng phương pháp tích phân ngay lập tức, không thông qua giai đoạn tính diện tích các hình đơn giản. Điều đó giải thích cho việc những gì người “ngộ” nói thường khó hiểu và điều đó cũng đưa ra phương pháp học cho ĐY đó là chấp nhận những gì người thầy nói. Không thể giải thích được cho đến khi chúng ta “ngộ” như người thầy hoặc đủ kiến thức để giải thích vấn đề đó.
Vậy có điểm mâu thuẫn với ý tôi đã nói ở trên kia, Phương Đông đạt đến chân lý tại sao lại thiếu sót? Trích:”Nói điều này ra đây để chúng ta nhận thấy dù Tây y hay Đông y phát biểu gì đi nữa nó vẫn là những phát biểu thiếu sót về cơ thể người”. Hãy để ý ý nghĩa chữ “phát biểu”. Biết con voi nhưng khi nói về voi mà chỉ nói tới vòi voi nghĩa là phát biểu thiếu sót vậy, mặc dù ta vẫn biết hình dạng đầy đủ của con voi.