TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO


TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
1.     Trúng phong kinh lc
1.1.          Thể lạc mạch hư trống, phong tà xâm nhắp:
+ Chứng hậu (SGK)
+ Biện chứng:
·       Do cơ thể người già chính khí hư suy, vệ khí bất cố, lạc mạch hư trống, phong tà thừa cơ xâm nhập vào kinh mạch khiến kinh mạch bị bế tắc, khí huyết không thông gây: Yếu hoặc liệt nửa người, có thể kèm theo liệt mặt cùng bên hoặc liệt mặt bên đối diện.
·       Chính khí hư suy nên khí huyết bất túc cùng với kinh mạch bị bế tắc, khí huyết không đủ nuôi dưỡng não gây ra Hoa mắt; chóng mặt, có thể thoáng vắng ý thức.
·       Phong tà gây bít tắc kinh lạc. Khí huyết ứ trệ vệ khí không được đưa đến bì phu đầy đủ mà xuất hiện cảm giác tê bì.
·       Phong tà xâm nhập vào phần ngoài, đinh vệ không điều hoà, tà khí và chính khí tranh chấp nhau gây Sơ giỏ: Rêu lưỡi trắng. Trúng phong thường do chính khí hư suy vệ khí bất cố nội phong kết họp vơi ngoại phong nên có mạch huyền tế (nội phong) hoặc phù sác(ngoai phòng).
·       Luận trị:
-        Chính khí hư suy: ích khí
-        Lạc mạch hư trống: dưỡng huyết
-        Phong tà xâm nhập làm bít tắc kinh mạch: khu phong thông lạc
1.2.          Thế phong đàm:
+ Chứng hậu: (SGK)
+ Biện chứng:
·       Do ăn uống không điều độ, uống rượu quá nhiều, lo nghĩ quá độ mà gây tổn thương tỳ. Tỳ bị tổn thương không vận hoá được thuỷ thấp làm thuỷ thấp tích trệ mà sinh đàm, cùng với cơ thể dương hư làm đàm thấp tích trệ. Lại thêm phiền lao quá độ hoặc tình trí bị kích thích làm phong dương động ở trong kết hợp với đàm chạy vào kinh mạch làm kinh mạch không thông lợi mà gây Yếu hoặc liệt nửa người, có thể kèm theo liệt mặt cùng bên hoặc liệt mặt bên đổi diện.
·       Phong đàm ngăn trở kinh lạc, quấy rối thần minh gây nên Lưỡi cứng, nói khó, có thể thoáng vắng Ý thức
·       Can chủ cân. Khi tình trí bị kích thích đồng thời ngoại phong dẫn động nội phong làm Can phong nội động khiến chân tay co quắp, kết hợp với đàm thấp tích trệ mà đặc tính của thấp là nặng nề nên bệnh nhân Cử đông khó khăn.
·       Phong đàm len lỏi vào kinh lạc làm khí huyết uất trệ bít tắc kinh lạc, vệ khí không đưa tơi bì phu đầy đủ được mà xuất hiện cảm giác tê dại.
·       Tỳ chủ khí hậu thiên, là nguồn căn bản hoá sinh ra khí huyết đi nuôi dưỡng cơ thể. Tỳ hư huyết thiếu nên Chất lưỡi nhạt. Tỳ hư không vận hoá được thuỷ thấp làm thuỷ thấp ứ trệ sinh đàm nên Rêu lưỡi trắng dày nhớt, mạch hoạt.
·       Đàm thấp là âm tà, tính của thấp là dính nhớt, khi ứ đọng làm che lấp thanh khiếu ở trên gây Hoa mất chóng mặt. Đầu đau như bó.
·       Mạch phù (ngoại phong) hoặc mạch huyền (nội phong).
·       Luận trị:
-        Kinh mạch không thông lợi nên khí huyết ứ trệ: ích khí, thông lạc.
-        Đàm thấp tích trệ: trừ đàm
-        Thanh khiếu bị che lấp: khai khiếu

2.     Trúng phong tang phủ
2.1.          Thể đàm nhiệt nôi bế:
+ Chứng hâu:(SGK)
+ Biện chứng:
·       Do ăn uống không điều độ, uống rượu quá nhiều, hoặc lo nghĩ quá độ mà gây thương Tỳ. Tỳ bị tổn thương không vận hoá được thuỷ thấp làm thuỷ thấp đình trệ sinh đàm, đàm tích trệ lâu ngày trong cơ thể hoá hoả, hỏa động sinh phong mà gây chứng Hôn mê, Liệt nửa người, có thể kèm theo liệt mặt cùng bên hoặc liệt mặt bên đối diện.
·       Đàm thấp thịnh cùng với khí nghịch lên, đờm nhiệt úng tắc lại ở hầu họng gây ra Thở khò khè, tiếng thở to, miệng hôi.
·       Phong hoả đàm nhiệt bế tắc trong kinh lạc nên Răng cắn chặt, cấm khấu, Đai tiểu tiện bế
·       Can chủ cân, can phong nội động khiến Tay chân nắm chặt, co giật, vật vã.
·       Đàm thấp tích trệ hoá hoả nhiệt gây ra Chất lưỡi đỏ giáng., rêu lưỡi vảng., mạch hoạt sác.
·       Luận trị:
-        Đàm hoả: Thanh nhiệt hoá đàm.
-        Thanh khiếu bị che mờ: khai khiếu, tỉnh thần
2.2.          Thể đàm mê thanh khiếu:
+ Chứng hu:(SGK)
+ Biện chứng:
·       Do ăn uống không điều độ, uống rượu quá nhiều; lo nghĩ quá độ gây tổn thương Tỳ.Tỳ hư không vận hoá được thuỷ thấp làm thuỷ thấp tích trệ mà sinh đàm, hoặc do tình chí bị kích thích làm cho phong dương nội động, phong cùng với đàm thấp đi lên che lấp thanh khiếu, bế tắc kinh mạch gây Hôn mê, liệt nửa người, có thể kèm theo liệt mặt cùng bên hoặc liệt mặt bẽn đối diện, cấm khẩu, Đai tiểu tiên bế
·       Thấp đàm là âm tà, tích lại trong cơ thể lâu ngày làm tổn thương dương khí. Dương khí suy vi, không vận chuyển được ra ngoài cơ biểu để ôn ấm cơ thể nên Chân tay lanh, mặt nhợt, môi tái.
·       Tỳ vị là gốc của hậu thiên, là nguồn căn bản hoá sinh ra khí huyết nuôi dưỡng cơ thể. Tỳ hư không vận hoá thấp trệ, khí huyết bất túc nên Chất lưỡi đạm nhạt.
·       Tỳ chủ cơ nhục chủ tứ chi, Tỳ hư cơ nhục không được nuôi dưỡng nên Tay chân mềm yếu.
·       Kinh mạch bế tắc khí trệ huyết ứ nên Lưỡi có điểm ứ huyết
·       Tỳ hư không vận hoá thuỷ thấp đàm trọc ủng trệ trọng cơ thể nên đờm rãi nhiều. Rêu lưỡi trắng nhớt, mạch trầm hoạt.
·       Luận trị:
-        Dương khí suy vi: ôn dương.
-        Đàm trọc tắc trở : hoá đàm
-        Phong đàm che mờ thanh khiếu gây hôn mê : khai khiếu, tỉnh thần
2.3.          Thể nguyên khí bại thoát:
+ Chứng hu:(SGK)
+ Biện chứng:
·       Ở người già, nam trên 64 tuổi, nữ trên 49 tuổi thiên quý kiệt, tiên thiên bất túc lại thêm sinh hoạt không điều độ làm hậu thiên thất dưỡng nên tinh huyết bất túc, ngũ tạng đều hư yếu, nguyên khí sút kém, chính khí hư suy, gặp tà khí xâm phạm thì nguyên khí bại thoát. Hoặc Can Thận bất túc, Can phong nội động thì chính khí không thắng nổi tà khí gây nên nguyên khí bại thoát âm dương chia lìa khiến bn đột nhiên hôn mê. Liệt tứ chi, liệt mềm, có thể kèm theo liệt mặt.
·       Dương khí quá hư suy, dương khí thoát đột ngột (vong dương) nên bệnh nhân có sắc mặt trắng bệch. Vã mồ hôi lạnh, lượng nhiều, Tứ chi lạnh, Đại tiểu tiên không tư chủ. Mạch trầm vi tế.
·       Dương khí thoát đột ngột phần âm mất nơi nương tựa. Can âm cạn kiệt (dẫn đến Can kinh khí tuyệt (vong âm). Can chủ cân nên Can kinh khí tuyệt thì cân cũng tuyệt theo cho nên mắt nhắm, miệng há, lưỡi rụt.
·       Can tàng huyết, Can âm cạn kiệt nên Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng nhớt
·       Luận trị:
-        Vong dương dẫn đến vong âm: ích khí hồi dương.
-        Nguyên khí bại thoát: Phù chính cố thoát
2.4.          Di chứng tai biển mạch máu não:
+ Chứng hậu: (SGK)
+ Biện chng:
·       Do các nguyên nhân chính khí hư suy, ngũ tạng hư suy, tà khí xâm nhập gây ra kinh mạch bế tắc, khí huyết không thông lợi, mà sinh các chứng: Yếu hoặc liệt nửa người. Có thể kèm theo liệt mặt củng bên hoặc liệt mặt bẽn đối diện, Lưỡi cứng, nói khó, Chân tay cử động khó khăn .
·       Kinh lạc bế tắc, khí huyết ứ trệ. Vệ khí không đến được bì phu đầy đủ nên bệnh nhân có Cảm giác tê dại.
·       Kinh mạch bế tắc, thanh dương bất thăng, trọc âm bất giáng, thanh khiếu bị che mờ: đau đầu, hoa mắt, chóng mặt.
·       Khí huyết bị tổn thương. Khí hư hạ hãm. Tiểu tiện hoặc đại tiểu tiện không tư chủ; hoặc Huyết hư, tân dịch hao tổn, khí nghịch lên: Đại tiện bí kết.
·       Huyết hư Chất lưỡi nhạt. Đàm thấp tích trệ Rêu lưỡi trắng dày nhớt, Thấp hoá hoả nên rêu lưỡi vàng.
·       Do đàm thấp nên mạch trầm hoạt, hoặc nội phong nên huyền hoạt.
·       Luận trị:
-        Khí huyết ứ trệ : ích khí, hoạt huyết.
-        Kinh lạc bế tắc: Thông lạc

Đọc thêm!

TĂNG HUYẾT ÁP

1.      Tăng HA th can dương thượng xung:
+ Chứng hậu:(SGK)
Cảm giác đau căng đầu, hoa mắt chóng mặt, ù tai. Hay cáu gắt. Miệng khô, khát. Tâm phiền, mất ngủ. Mặt đỏ, mắt đỏ. Đại tiện bí kết, tiểu tiện vàng sẫm. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng. Mạch huyền sác hữu lực
+ Biện chứng:
·        Do các nguyên nhân bẩm tố cơ thể dương vượng, lại thêm âm dương thất điều; uất ức lâu ngày gây can khí uất kết; đột nhiên tức giận quá mức làm ảnh hưởng đến chức năng sơ tiết của tạng Can khiến cho Can dương vượng lên che lấp khiếu trên mà gây ra chứng huyễn vựng, biểu hiện: Cảm giác đau căng đầu; Hoa mắt, chóng mặt, ù tai.
·        Mặt khác, chức năng sơ tiết của tạng Can bị ảnh hưởng, Can kém sơ tiết làm khí cơ uất trệ, khí kém điều đạt sinh ra chứng Hay cáu gắt
·        Can khí uất kết lâu ngày hoá hoả; hoả thiêu đốt trong cơ thể làm tổn hao tân dịch mà miệng khô, khát
·        Can hoả bốc lên trên đồng thời Can khai khiếu ra mắt gây chứng mặt đỏ, mắt đỏ.
·        Tân dịch thiếu cùng với nhiệt nung nấu nên Tiểu tiện vàng sẫm. Khí theo hoả bốc lên trên sinh ra đại tiện bí kết
·        Hoả bốc lên trên làm nhiễu động Tâm gây ra chứng Tâm phiền, mất ngủ.
·        Can khí uất kết lâu ngày hoá hoả biểu hiện các chứng nhiệt như Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng: mạch sác hữu lực.
·        Can dương vượng lên trên nên mạch huyền.
·        Luận trị: Can dương vượng: Bình can tiềm dương.
+ Chẩn đoán
-           BC: Lý- thực – nhiệt
-           TP: Can
-           NN: Nội nhân
-           BD: Huyễn vựng, đầu thống
+ Pháp Bình can, tiềm dương
+ Phương Bài: thiên ma câu đằng ẩm
Thiên ma 10, câu đằng 12, hoàng cầm 10, chi tử 10,tang ký sinh 12, đỗ trọng 12, hà thủ ô 15, ngưu tất 12, ích mẫu 10, phục thần 10, thạch quyết minh 15
CD: Sắc uống ngày 1thang chia 2 lần
Cách sắc: thạch quyết minh đập vụn, sắc trước 30ph. Sau cho các vị thuốc còn lại vào sắc cùng
+ Châm cứu
. Châm tả: Thái xung, hành gian, phong trì, xuất cốc, bách hội, đầu duy
. Châm bổ: Nội quan, thần môn
Thời gian 15- 20ph /lần * 1-2 lần/ngày
Nhĩ châm: Rãnh hạ áp, giao cảm, tuyến thượng thận, dưới vỏ não, thần môn, can ,thận
Thời gian 20- 30ph /lần * 1-2 lần/ngày
+ Khí công – dưỡng sinh
Tập các bài luyện ý , luyện thở. Thời gian: tối đa 30ph/lần*1-2 lần/ngày
 2.      Tăng HA thế can thân âm hư, can dương vương:
+ Chứng hậu:
Đau đầu. Hoa mắt chóng mặt. Ù tai. Ngũ tâm phiền nhiệt. Lưng gối mỏi yếu. Chân tay tê bì. Chất lưỡi đỏ ít rêu. Mạch huyền vi,bộ xích nhược.
+ Biện chứng:
·        Do tuổi cao thận tinh suy giảm. Ở người già, nam trên 64 tuổi, nữ trên 49 tuổi thiên quý kiệt, tiên thiên bất túc lại thêm không chú ý bảo dưỡng làm hậu thiên thất dưỡng hoặc khi còn trẻ phòng dục quá độ làm tổn thương chân âm, nguyên dương, thận tinh khuy tổn. Thận tinh suy giảm khiên cho Can âm không được tư dưỡng, âm không đủ để tiềm dương làm cho Can dương vượng lên
·        Can dương vượng lên che lấp khiếu trên mà gây ra các chứng như: Đau đầu; Hoa mắt chóng mặt, ù tai.
·        Can thận âm hư sinh nội nhiệt, âm hư không chế nổi dương làm Can dương vượng lên sinh chứng: Ngũ tâm phiền nhiệt. Chất lưỡi đỏ, ít rêu.
·        Thận chủ cốt tuỷ, thận tàng tinh, tinh sinh tuỷ, tuỷ ở trong cốt và nuôi dưỡng cốt nên khi thận hư, xương cốt kém được nuôi dưỡng gây ra Lưng gối mỏi yếu
·        Can tàng huyết, Can âm hư không đủ tư dưỡng nên âm huyết ở Can bất túc. Huyết không đủ lưu thông trong kinh mạch và nuôi dưỡng tứ chi gây ra Chân tay tê bì
·        Can dương vượng nên mạch huyền, nhưng do huyết thiếu nên mạch vi. Thận âm hư nên b Xích nhược.
·        Luận trị:   Can thận âm hư :Tư âm
-        Can dương vượng: Tiềm dương
-           Can thận âm hư :Tư âm
-           Can dương vượng: Tiềm dương
 + Chẩn đoán
-           BC: Lý- hư trung hiệp thực – nhiệt
-           TP: Can, thận
-           NN: Bất nội ngoại nhân
-           BD: Huyễn vựng, đầu thống
+ Pháp
Tư âm tiềm dương
+ Phương
-           Thuốc
Bài:Lục vị quy thược hoặc Kỷ cúc địa hoàng hoàn
Thục địa 320, Sơn dược, sơn thù 106g, còn lại 120g
CD: Tán bột mịn, luyện mật làm hoàn, uống 8-18g/lần* 2-3 lần/ngày với nước sôi để nguội hoặc nước muối nhạt
Âm hư nhiều: triều nhiệt, đạo hãn, cốt chưng, ngũ tâm phiền nhiệt, chất lưỡi đỏ giáng, rêu lưỡi vàng, mạch sác, dùng Tri bá địa hoàng hoàn
+ Châm cứu
. Châm tả: Thái xung, hành gian, phong trì, xuất cốc
. Châm bổ: Nội quan, thần môn, tam âm giao, thái khê
Thời gian 15- 20ph /lần * 1-2 lần/ngày
Nhĩ châm: Rãnh hạ áp, giao cảm, tuyến thượng thận, dưới vỏ não, thần môn, can ,thận
Thời gian 20- 30ph /lần * 1-2 lần/ngày
+ Khí công – dưỡng sinh
Tập các bài luyện ý , luyện thở, luyện hình. Thời gian: tối đa 30ph/lần*1-2 lần/ngày
 3.      Tăng HA thể tỳ hư, đàm trệ:
+ Chứng hậu:
Cảm giác đau nặng đầu như bó. Hoa mắt chóng mặt. Mệt mỏi. Tâm phiền hoặc ngực bụng đầy tức. Ăn ít,ngủ nhiều. Chất lưỡi nhợt bệu, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch hoạt hoặc huyền hoạt. Hoặc rêu lưỡi vàng nhờn, mạch huyền hoạt sác
+ Biên chứng:
·        Do ăn uống không điều độ, ăn quá nhiều đồ béo ngọt, hoặc uống quá nhiều rượu; hoặc do lao lực quá độ; hoặc do nghĩ ngợi nhiều gây thương tỳ. Tỳ hư không vận hoá được thuỷ thấp, tích tụ lại thành đàm. Đàm thấp tích lại làm trở ngại trung tiêu lâu ngày hóa hỏa, hỏa đưa lên che lấp khiếu trên, đồng thời đàm trọc cản trở lạc mạch, khiến cho thanh dương không thăng lên, khiêu trên không được nuôi dưỡng mà gây chứng: hoa mắt chóng mặt. Ngủ nhiều
·        Đàm thấp là âm tà, tính của thấp là dính nhớt, khi đàm ứ đọng làm che lấp thanh khiếu mà gây: Cảm giác đau nặng đầu như bó.
·        Tỳ chủ vận hoá thuỷ thấp, thuỷ cốc trong cơ thể. Tỳ hư không vận hoá được thuỷ cốc làm thức ăn tích trệ lại không tiêu khiến bệnh nhân ăn ít, không muốn ăn. Tỳ hư không vận hoá được thuỷ thấp nên ứ - trệ tạo thành đàm trọc làm trở ngại trung tiêu gây ra bụng ngực đầy tức: Mạch hoạt
·        Tỳ vị là gốc của hậu thiên, là nguồn căn bản hoá sinh ra khí huyết đi nuôi dưỡng cơ thể. Tỳ hư không vận hoá được, khí huyết không đầy đủ cơ thể kém được nuôi dưỡng nên toàn thân mệt mỏi: Chất lưỡi nhợt bệu
·        Đàm trệ lại trong cơ thể lâu ngày hoá hoả, đàm hoả nhiễu động Tâm mà gây ra Tâm phiền
·        Đàm trệ nên rêu lưỡi trắng nhớt. Nếu đàm thấp tích tụ lâu ngày hoá hoả rêu lưỡi vàng nhờn
·        Do đàm thấp tích trệ nên: mạch hoạt hoặc huyền hoạt. hoặc do đàm thấp hóa hỏa nên mạch huyền hoạt sác.
·        Luận trị: Tỳ hư : Kiện tỳ.
-        Đàm thấp tích trệ: táo thấp, hoá đàm
+ Chẩn đoán
-           BC: Lý- hư trung hiệp thực
-           TP: Tỳ, Tâm
-           NN: Bất nội ngoại nhân, Nội nhân
-           BD: Huyễn vựng, đầu thống
+ Pháp: Tư âm tiềm dương
+ Phương
Bài: Bán hạ bạch truật thiên ma thang
Bán hạ 10, bạch truật 12, thiên ma 8, bạch linh 12, quất hồng 8, cam thảo 4, gừng 2 lát, đại táo 2 quả
CD: sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần
+ Châm cứu
. Châm tả: Phong long, bách hội, đầu duy
. Châm bổ: Túc tam lý, tam âm giao, giảii khê
Thời gian 15- 20ph /lần * 1-2 lần/ngày
Nhĩ châm: Rãnh hạ áp, giao cảm, tuyến thượng thận, dưới vỏ não, thần môn, tỳ, vị
Thời gian 20- 30ph /lần * 1-2 lần/ngày
+ Khí công – dưỡng sinh
Tập các bài luyện ý , luyện thở, luyện hình. Thời gian: tối đa 20ph/lần*1-2 lần/ngày
Đọc thêm!

Câu hỏi Phụ

Câu hỏi Phụ Câu 1: nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh tử huyền. 
Câu 2: Bệnh lý sảy thai. 
Câu 3: Sản hậu đại tiện bí kết 
Câu 5: Nguyên nhân và cỏ chế bệnh sinh âm đỉnh
 Câu 6: Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh bào trở 
Câu 7: Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh bí tiểu sau sinh 
Câu 4: Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh vô sinh


Câu 1: nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh tử huyền.

- can khí uất: Bt hay bị giận dữ, uất ức ko giải dc, can mất chức năng điều đạt sơ tiết hoặc can uất, tỳ hư yếu, mất CN kiện vận làm cho khí bị uất, đàm bị trệ. Thai lớn lên làm cho khí cơ ko thăng giáng dc, đàm thấp ngăn trở bên trog thanh + ko thăng lên dc
- Phế vị tích nhiệt: Cơ thể vốn có dương thịnh, phế vị tích nhiệt, khi có thai, thai khí ko điều hòa, uất nhiệt bốc lên tâm ngực khiến cho ngực bụng đầy chướng
- Can thận âm hư: Cơ thể vốn suy yếu, sau khi có thai, huyết tụ lại để nuôi dưỡng thai, âm huyết bị bất túc, âm ko tiềm dc dương, can + bốc lên thanh khiếu bên trên
- Khí huyết đều hư: Cơ thể vốn bị khí huyết suy yếu, khi có thai khí huyết hư thêm. Khí hư thì thanh khí ko thăng lên dc, huyết hư thì tủy huyết ko dc nuôi dưỡng

Câu 2: Bệnh lý sảy thai.
- Khí huyết hư:  Phụ nữ có thai vốn thể chất yếu hoặc bị bệnh khác làm khí huyết hư mạch xung nhâm yếu ko điều hòa, ko nuôi dưỡng dc thai
- Tỳ hư: Tỳ hư ko vận hóa dc thủy cốc, ko sinh dc huyết làm xung nhâm hao tổn ko nuôi dưỡng dc thai
- Thận hư:Tiên thiên bất túc, thận khí hư kém hoặc phòng dục quá độ, tình dục bừa bãi làm hao tổn thận khí ko đủ sức nuôi thai
- Can khí uất: Thất tình uất kết, khí ko lưu thong, thai bị ngăn trở ko yên
- Âm hư huyết nhiệt: Phụ nữ có thai vốn âm hư hỏa thịnh hoặc do ăn uống cay nóng, hao huyết nhiệt độc ẩn nấp ở xung nhâm bức huyết vong hành mà thai ko dc nuôi dưỡng
- Sang thương Do chấn thương làm tổn thương làm tổn thương thai khí
Câu 3: Sản hậu đại tiện bí kết
- huyết hư: Do âm huyết khô kiệt sau sinh chưa hồi phục, ko thể tưới nhuần vị trường, huyết hư hỏa thịnh càng thiêu đốt tân dịch càng làm cho đại trường khô ráo gây bệnh=> dưỡng huyết nhuận tràng
- Vị thực: Hậu sản ngoại tà xâm phạm vào lý, đồ ăn bị tích lại, nhiệt kết bên trong, ruột khô táo vị thực gây bí kết=> công phạt


Câu 5: Nguyên nhân và cỏ chế bệnh sinh âm đỉnh
- Khí hư: bẩm tố trung khí hư nhược sau khi chửa đẻ thì càng hư suy, kinh kỳ hậu sản lao động nặng làm tổn thương trung khí hoặc sống ở nơi ẩm thấp lạnh kéo dài, hàn thấp xâm nhập gây tổn thương bào cung và xung nhâm. Khí hư ko có khả năng thăng đề và cố nhiếp gây sa tử cung
- Thận khí hư: Do tiên thiên bất túc, sinh đẻ nhiều hoặc do người già thận khí suy kiệt làm thương tổn tinh khí dẫn đến sa tử cung 

Câu 6: Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh bào trở
-  Tử cung hư hàn: người vốn hư yếu , tử cung vốn yếu, phong hàn xâm nhập, khí huyết bị uất trệ lại mà gây đau bụng
-   Khí huyết đều hư: người thể chất vốn yếu, khí huyết không đủ , sự vận hành khí huyết không lưu lợi vì vậy huyết mạch ở tử cung bị ngừng trệ mà đau bụng
-  Khí huyết không thông:
+ Tức giận lo nghĩ quá độ, can tỳ khí uất không thông mà gây đau
+ Ngoài ra do ăn uống tích đọng lại ở dạ dày , tiêu hóa không tốt, tích trệ lại mà sinh đau 

Câu 7: Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh bí tiểu sau sinh
-khí hư: Bẩm chất hư nhược, khi sinh đẻ dùng sức quá nhiều làm tổn thương đến khí hoặc mất huyết quá nhiều, khí tự theo huyết mà hao. Vì thế làm cho tỳ phế bị hư không thể thông điều thủy đạo, chảy xuống bàng quang làm nghẽn tắc ở bàng quang gây tiểu tiện không thông
- Thân hư: Vốn nguyên khí bất túc rồi, sau đẻ lại tổn thương thận khí làm thận dương bất túc, không thể hóa khí hành thủy được gây bí tiểu tiện
- Ứ trệ: Sau khi sinh vấn đề tình chí không toại nguyện hoạc tức giận thương can làm can khí uất kết, khí cơ trở trệ mất chức năng thăng thanh giáng trọc gây bí tiểu ở bàng quang


Câu 4: Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh vô sinh
- Bào cung lạnh: đường mạch của bào cung là để tiếp nhận tinh, tinh ấm thì sinh, tinh lạnh thì sát, tinh ấm mà bào cung lạnh thì cũng ko sinh. Bào cung trong khoảng giữa tâm và thận, bào cung lạnh là 2 chân hỏa tâm và thận suy kém do đó phải bổ 2 chân hỏa tâm và thận
- Tỳ vị hư hàn: Tỳ vị hư hàn ko ôn ấm đc bào cung, thức ăn ko đc vận hóa do thận dương hư ko vận hóa đc tỳ dương , tỳ vị yếu mạch đới vô lực, khi tinh vào bào cung ko thụ thai đc. Sau khi sinh hoạt tinh trùng ra ngoài hết do bào cung ko giữ đc tinh
- Mach đới căng: mạch hòa hoãn mới có thai. Do khí vùng eo lưng ko thuận lợi, khí của tỳ vị hư, lưng rốn ko hoạt lợi( mạch đới vòng quanh lưng và rốn). mạch đới bị gò kéo, bào cung co lại thu hẹp làm tinh vào bào cung khó
- Can khí uất( can và thận đều có tướng hỏa, đều liên quan đến tâm quân hỏa): Giận dữ hại can, can khí ko thư thái làm tâm hỏa và thận thủy ko giao nhau, xuống khắc tỳ thổ làm mạch nhâm đới bế tắc, bào cung càng bế tắc( can hỏa đọng, can ko sơ tiết, thân ko bế tàng)
- Đàm thấp: người béo bệu, tử cung co vào che lấp ko lấy đc dương tinh, hoặc nếu giao hợp tinh vào đc nhưng thấp từ bàng quang đưa vào cũng ko thể có thai
- Tướng hỏa vượng: người gầy, huyết hư, thủy khô, khi giao hợp mệt mỏi( huyết hư). Huyết tàng ở can, tinh chứa ở thận, khi giao hợp tinh và huyết đều tiết ra. Khi thận tinh và huyết hư giao hợp khó, tinh và huyết khó bài tiết nên khó có thai
-  Thận thủy suy: bào cung trên liên lạc với tâm bào, tâm bào thông với tâm, tâm là dương thuộc hỏa.  dưới liên hệ với mệnh môn, mệnh môn thông với thận. thận là âm thuộc thủy. bào cung liên hệ với tâm hỏa và thận thủy, thận thủy hư nên xương tủy nóng chỉ còn sức nóng của tâm hỏa ko tư dưỡng đc bào cung nên ko có thai
- Mạch nhâm đốc bị bệnh: mạch nhâm hư thì mạch đới tụt xuống phía trước còn mạch đốc hư thì mạch đốc tụt xuống phía sau. Mach nhâm đốc hư sinh chứng sán hà
- Bàng quang ko khí  hóa đc: khí thủy thấp ở bàng quang ko đc phân hóa, BQ ko phân hóa đc phải nhờ thận khí. Nếu thận khí ko khí hóa đc BQ, thủy thấp ko phân hóa đc mà thấm vào bào cung mà gây ra ko có thai
- Khí huyết hư: Nữ lấy huyết làm chủ, huyết đi theo khí, nếu tỳ khí hư ko sinh ra huyết dẫn đến huyết hư ảnh hưởng đến can huyết và thận khí

Đọc thêm!