LOÃNG XƯƠNG

LOÃNG XƯƠNG
(Yêu thống, Cốt khô, cốt thống)
1.      Loãng xương thể thận dương hư:
+ Chứng hậu:
- chủ yếu đau vùng thắt lưng, lưng
- Cảm giác đau mỏi, không có lưc, lạnh vùng lưng, thắt lưng
- Gù cong vùng thắt lưng
- Sợ lạnh, chi lạnh, các khớp tứ chi biến dạng, hoạt động hạn chế
- Lưỡi bè to, rêu lưỡi trắng mỏng
- Mạch trầm tế
+ Biện chứng:
·        Sách Tố Vấn thiên “Âm dương ứng tượng đại luận ”ghi: “Thận chủ cốt tuỷ, thận tàng tinh, tinh sinh tuỷ, tuỷ ở trong cốt và nuôi dưỡng cốt. Thận tinh sung túc tắc cốt sinh hoá có nguồn, xương được sự nuôi dưỡng của tuỷ mà rắn chắc và rất khó bị gãy. Nếu thận tinh suy thì nguồn sinh hóa của xương giảm làm xương giòn, nhược, vô lực, toàn thân suy yếu không chịu được lực mạnh, dễ gãy xương”.
·        Ở người già, nam trên 64 tuổi, nữ đến 49 tuổi thiên quý kiệt,-tiên thiên bất túc lại thêm không chú ý bảo dưỡng làm hậu thiên thất dưỡng hoặc phòng dục quá độ làm tổn thương chân âm, nguyên dương dẫn đến tinh huyết bất túc, thận dương suy yếu không thể sinh tủy mạnh cốt. Lưng là ngoại hậu của Thận, các đường kinh đều vòng qua Thận mà liên tục tới lưng. Sách Tố vấn ghi: “Lưng là phủ của Thận, xoay chuyển khó khăn là Thận sắp mệt mỏi”. Tinh khí của Thận bất túc nên chủ yếu Đau mỏi vùng lưng, thắt lưng; Sách Tố vấn lại ghi: “Tạng Thận suy, hình thể đều mệt cùng cực” vì thế lưng có Cảm giác đau mỏi, không có lưc; Gù cong vùng thất lưng.
·        Nguyên khí của thận bất túc, mệnh môn hoả suy, âm hàn thịnh ở trong gây nên Lạnh vùng lưng, thất lưng
·        Thận dương hư, dương khí suy vi, lực vận hành của khí kém nên không vận chuyển được ra ngoài cơ biểu, tứ chi để ôn ấm nuôi dưỡng huyết mạch nên bệnh nhân Sợ lạnh, chân tay lạnh.
·        “Túc thiếu âm khí tuyệt tắc cốt khô” nghĩa là tinh khí của Thận giảm làm xương kém kiện vận. Thận dương hư tổn nên tinh huyết ở Thận bất túc, cân cốt không được nuôi dưỡng. Các khớp tứ chi biến dang. Mặt khác, dương khí không vận chuyển ôn ấm được tứ chi nên hàn ẩm ứ đọng làm Hạn chế vận động khớp ở tứ chi
·        Thận dương hư không khí hoá được thuỷ dịch, thuỷ thấp ứ đọng trong cơ thể ngấm ngầm ra lưỡi nên Lưỡi bè to. Dương hư sinh hàn nên Rêu lưỡi trắng mng
·        Thận dương hư, khí chân dương hao tổn không tụ lại thành tinh. Thận tinh khuy tổn nên mạch trầm tế.
·        Luận trị: Thận dương hư: Ôn thận ích tuỷ.
+ Chẩn đoán
-        BC: Lý- hư – hàn
-        TP: Thận dương hư
-        NN: Bất nội ngoại nhân
-        BD: Cốt khô ( thể Thận dương hư)
  + Pháp:ôn thận ích tủy
Phương dược:
Hữu quy hoàn (hoặc bát vị quế phụ)
-        Hữu quy hoàn: Thục địa, Sơn thù, Hoài sơn, Kỷ tử, Đỗ trọng, Thỏ ty, Phụ tử, Nhục quế, Đương quy, Lộc giác giao.
Tán bột mịn, luyện mật làm hoàn, uống 8-12g/ lần/ngày với nước sôi để nguội hoặc nước muối nhạt. Cũng có thể làm thang
 Gia giảm:
+ Mệt mỏi ăn kém: Đảng sâm, Sa nhân
+ Chi dưới trầm nặng : Phòng kỷ
+ Chân tay co duỗi khó khăn: mộc qua, câu đằng
+ Cảm giác đau mỏi trong xương gia cẩu tích, tục đoạn,cốt toái bổ, cốt khí, đau xương.
+ Châm cứu:
-        Châm bổ: châm các huyệt phục lưu, huyền chung, giáp tích L2-S1, thận du, đại trường du, mệnh môn
Thời gian: 20-30ph/lần*1-2 lần/ngày

+ đau vùng mông thêm trật biên
+ Đau vùng thắt lưng lan xuống mặt sau đùi và cẳng chân thêm trật biên, thừa phù, ủy trung, thừa sơn
+ Đau vùng cùng cụt thêm thứ liêu, bát liêu.
-        Nhĩ châm: giao cảm, thận, chi trên, chi dưới,
Thời gian: 20-30ph/lần*1-2 lần/ngày
 + Xoa bóp, bấm huyệt
XBBH vùng cơ thể bị đau. Tuy nhiên loãng xương nặng không nên thực hiện động tác vận động cột sống vì dễ gây tai biến.
+ Khí công dưỡng sinh:
luyện thở, luyện hình thể để nâng cao sức khỏe, giảm triệu chứng, hạn chế tiến triển của bệnh. Thời gian: 20-30ph/lần*1-2 lần/ngày
  2.      Loãng xương thể thận âm hư:
+ Chứng hậu:
- Lưng và tứ chi đau mỏi
- Cốt chưng, triều nhiệt
- Ngũ tâm phiền nhiệt
- Hồi hộp, đánh trống ngực, có thể đau tức ngực
- Hoa mắt, chóng mặt, ù tai
- Chất lưỡi đỏ, ít rêu
- Mạch huyền vi sác
+ Biện chứng:
·        Sách Tố vấn thiên “Âm dương ứng tượng đại luận ”ghi: “Thận chủ cốt tuỷ, thận tàng tinh, tinh sinh tuỷ, tuỷ ở trong cốt và nuôi dưỡng cốt. Thận tinh sung túc tắc cốt sinh hoá có nguồn, xương được sự nuôi dưỡng của tuỷ mà rắn chắc và rất khó bị gãy. Nếu thận tinh suy thì nguồn sinh hóa của xương giảm làm xương giòn, nhược, vô lực, toàn thân suy yếu không chịu được lực mạnh, dễ gãy xương”.
·        Ở người già, nam trên 64 tuổi, nữ trên 49 tuổi thiên quý kiệt, tiên thiên bất túc lại thêm không chú ý bảo dưỡng làm hậu thiên thất dưỡng hoặc phòng dục quá độ làm tổn thương chân âm, nguyên dương dẫn đến tinh huyết bất túc, ngũ tạng hư yếu. Tinh khí của ngũ tạng đưa đến tàng chứa ở Thận giảm sút dẫn tới tinh khuy dịch kiệt, hư hoả nội sinh thiêu đốt Thận làm Thận âm hư
·        Lưng là ngoại hậu của Thận, các đường kinh đều vòng qua Thận mà liên tục tới lưng. Sách Tố Vấn ghi: “Lưng là phủ của Thận, xoay chuyển khó khăn là Thận sắp mệt mỏi”. Tinh khí của Thận bất túc không nuôi dưỡng được xương cốt nên Lưng và tứ chi đau mỏi
·        Thận âm hư sinh nội nhiệt biểu hiện ra cốt trưng, triều nhiệt; Ngũ tâm phiền nhiệt; Lưỡi đỏ. ít rêu, Mạch sác.
·        Thận âm hư, nhiệt trưng đốt tân dịch làm tân dịch hao tổn. Thuỷ dịch không đầy đủ mối quan hệ tương giao Thận thuỷ - Tâm hoả bị phá vỡ khiến Tâm hoả động mà gây ra Hồi hộp. trống ngực, có thể đau tức ngực.
·        Thận âm hư không tư dưỡng được Can âm, âm không đủ tiềm dương làm Can dương vượng lên gây Hoa mắt, chóng mặt, ù tai, mạch huyền.
·        Tinh huyết bất túc nên mạch vi
·        Luận trị: Thận âm hư —> Tư bổ thận âm (bài thuốc Lục Vị địa hoàng hoàn)
+ Chẩn đoán
-        BC: Lý- hư – nhiệt
-        TP: Thận âm hư
-        NN: Bất nội ngoại nhân
-        BD: Cốt khô ( thể Thận âm hư)
  + Pháp:tư bổ thận âm
+ Phương dược:
- Lục vị
- Tả quy hoàn: thục địa, sơn thù, sơn dược, lộc giác, quy bản, kỷ tử, ngưu tất, thỏ ty
Tán bột mịn, luyện mật làm hoàn, uống 8-12g/ lần/ngày với nước sôi để nguội hoặc nước muối nhạt. Cũng có thể làm thang
  + Châm cứu
-        Châm bổ: thái khê, tam âm giao, huyền chung, giáp tích L2-S1, thận du, đại trường du, yêu nhãn,
Thời gian: 20-30ph/lần*1-2 lần/ngày
+ đau vùng mông thêm trật biên
+ Đau vùng thắt lưng lan xuống mặt sau đùi và cẳng chân thêm trật biên, thừa phù, ủy trung, thừa sơn
+ đau vùng cùng cụt thêm thứ liêu, bát liêu.
-        Nhĩ châm: giao cảm, thận, chi trên, chi dưới,
Thời gian: 20-30ph/lần*1-2 lần/ngày
+ xoa bóp bấm huyệt:
vùng cơ thể bị đau. Tuy nhiên loãng xương nặng không nên thực hiện động tác vận động cột sống vì dễ gây tai biến.
+ Khí công dưỡng sinh:
luyện thở, luyện hình thể để nâng cao sức khỏe, giảm triệu chứng, hạn chế tiến triển của bệnh. Thời gian: 20-30ph/lần*1-2 lần/ngày
 3.      Loãng xương thể can thân âm hư, phong thấp xâm nhập:
+ Chứng hậu:
- Lưng và tứ chi đau mỏi, vô lực, vận động khó khăn
- Họng khô lưỡi táo
- Lòng bàn tay, bàn chân đỏ
- Tự hãn, đạo hãn
- Lưỡi hồng, rêu lưỡi mỏng, ít rêu hoặc không rêu
+ Biện chứng:
·        Sách Tố Vấn thiên “Âm dương ứng tượng đại luận ”ghi: “Thận chủ cốt tuỷ, thận tàng tinh, tinh sinh tuỷ, tuỷ ở trong cốt và nuôi dưỡng cốt. Thận tinh sung túc tắc cốt sinh hoá có nguồn, xương được sự nuôi dưỡng của tuỷ mà rắn chắc và rất khó bị gãy. Nếu thận tinh suy thì nguồn sinh hóa của xương giảm làm xương giòn, nhược, vô lực, toàn thân suy yếu không chịu được lực mạnh, dễ gãy xương”.
·        Ở người già, nam trên 64 tuổi, nữ trên 49 tuổi thiên quý kiệt, tiên thiên bất túc lại thêm không chú ý bảo dưỡng làm hậu thiên thất dưỡng hoặc phòng dục quá độ làm tổn thương chân âm, nguyên dương —> thận tinh khuy tổn, hư hoả nội sinh thiêu đốt thuỷ dịch gây Thận âm hư. Thận tinh bất túc không tư dưỡng được Can âm làm can âm cũng hư theo; Hoặc do tình trí thất điều, suy nghĩ căng thẳng thái quá hay uất ức lâu ngày làm Can âm tổn thương, lao tâm lao lực quá độ làm chí cực uất mà hoá hoả —> Hoả thiêu đốt Thận làm Thận âm hư.
·        Can Thận âm hư lâu ngày làm chính khí hư suy, vệ khí bất cố, phong thấp tà thừa cơ xâm nhập vào cơ thể, ứ trệ ở cân cơ xương kinh lạc làm khí huyết tắc trở mà sinh chứng lưng và tứ chi đau mỏi. Sách Tố vấn ghi: “Tạng Thận suy, hình thể đều mệt cùng cực” nên đau mỏi vô lực. Thấp là âm tà, tính của thấp là nặng nề nên khi ứ đọng ở cân cơ xương kinh lạc làm vận động khó khăn,
·        Can Thận âm hư sinh nội nhiệt biểu hiện lòng bàn chân, bàn tay đỏ. Đo hãn, Lưỡi hồng, mạch sác. Hoả nhiệt thiêu đốt tân dịch làm tân dịch hư tổn không đủ tư nhuận nên Họng khô, lưỡi táo
·        Tinh huyết bất túc nên Rêu lưỡi mỏng, ít rêu hoặc không rêu; Mạch tế. Chính khí hư suy, vệ khí bất cố nên Tự hãn
·        Luận trị:
-        Can thận âm hư: Bổ can thận.
-        Phong thấp xâm nhập: Trừ phong thấp.
+ Chẩn đoán
-        BC: Lý- hư trung hiệp thực – nhiệt
-        TP: Can Thận âm hư
-        NN: Bất nội ngoại nhân, Ngoại nhân
-        BD: Cốt khô ( thể Can Thận âm hư, Phong thấp xâm nhập )
+ Pháp:Bổ can thận, trừ phong thấp
+ Phương:
Độc hoạt tang ký sinh ( hoặc Tam tý thang)
Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần, uống sau ăn 20-30phút
. Đau nhiều, gia: Cẩu tích, cốt toái bổ, tục đoạn 12
. Tự hãn, đạo hãn, gia: Long cốt, mẫu lệ 15
. Đại tiện bí, gia: Nhục thung dung
. Miệng khô, gia Thiên hoa phấn 12
+ Châm cứu:
Bổ thái khê, tam âm giao, huyền chung, can du, thận du, đại trường du.
Châm 20-30ph/lần ×1-2lần/ ngày
. Cổ gáy đau, thêm Phong trì, Kiên tỉnh, Đại chùy
+ đau vùng mông thêm trật biên
+ Đau vùng thắt lưng lan xuống mặt sau đùi và cẳng chân thêm trật biên, thừa phù, ủy trung, thừa sơn
+ Đau vùng cùng cụt thêm thứ liêu, bát liêu.
-        Nhĩ châm: giao cảm,Can, thận, chi trên, chi dưới,
Thời gian: 20-30ph/lần*1-2 lần/ngày
vùng cơ thể bị đau, nếu loãng xương nặng không thực hiện động tác vận động cột sống thắt lưng vì dễ gây tai biến.
+ Khí công:Luyện thở, luyện ý, luyện hình, 20-30ph/lần×1-2lần/ ngày
 4.      Loãng xương thể tỳ vị hư nhược:
+ Chứng hậu:
- Tứ chi mỏi tê, không muốn vận động
- Sắc mặt kém nhuận
- Cảm giác chóng mặt
- Miệng nhạt, kém ăn
- Đại tiện phân nát, có thể sống phân
- Chất lưỡi nhạt, rêu trắng
- Mạch tế nhược, vô lực
+ Biện chứng:
·        Sách Tố Vấn thiên “Âm dương ứng tượng đại luận ”ghi: “Thận chủ cốt tuỷ, thận tàng tinh, tinh sinh tuỷ, tuỷ ở trong cốt và nuôi dưỡng cốt. Thận tinh sung túc tắc cốt sinh hoá có nguồn, xương được sự nuôi dưỡng của tuỷ mà rận chắc và rất khó bị gãy. Nếu thận tinh suy thì nguồn sinh hóa của xương giảm làm xương giòn, nhược, vô lực, toàn thân suy yếu không chịu được lực mạnh, dễ gãy xương”.
·        Tỳ là gốc của hậu thiên, là nguồn căn bản hoá sinh ra khí huyết nuôi dưỡng cơ thể và bồi đắp không ngừng cho tiên thiên.
·        Do ăn uống không điều độ, ăn cao lương mĩ vị nhiều, uống nhiều rượu khiến tỳ vị bị tổn thương; hoặc do dinh dưỡng bị thiếu, tinh hậu thiên bất túc không thể tư dượng được Thận tinh, làm cốt bị thất dưỡng gây Tứ chi mỏi tê. không muốn vận động
·        Tỳ vị vận hoá thuỷ cốc, hoá sinh ra khí huyết nuôi dưỡng cơ thể. Tỳ vị hư nhược mất chức năng vận hoá —> Khí huyết không đầy đủ làm sắc mặt kém nhuận. Khí huyết không đủ đưa lên nuôi dưỡng não nên bệnh nhân có Cảm giác chóng mặt. Khí huyết bất túc nên mạch tế nhược vô lực
·        Tỳ vị hư nhược không vận hoá được thuỷ cốc, đồ ăn tích trệ lại ở Vị gây Bụng dầy trướng; Ăn kém; Đại tiện phân nát, có thể sống phân.
·        Tỳ khai khiếu ra miệng vinh nhuận ra môi. Tỳ vị hư nhược mất kiện vận nên miệng nhạt, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng. Sách Linh khu viết: “Tỳ khí thông lên miệng, Tỳ hoà thì miệng có thể biết được vị của Ngũ cốc”.
·        Luận trị: Tỳ vị hư nhược: Kiện tỷ ích vị.
+ Chẩn đoán
-        BC: Lý- hư- thiên hàn
-        TP: Tỳ Vị hư
-        NN: Bất nội ngoại nhân
-        BD: Cốt khô ( thể Tỳ vị hư nhược)
 + Pháp:Kiện tỳ, ích vị
+ Phương:Tứ quân tử thang gia vị:
Đảng sâm         12g, Bạch linh 12g, Bạch truật 12g, Chích cam thảo      10g, Hoàng kỳ 10g, Đương quy 10g, Hoài sơn 12g
Ngày 1 thang, chia 2 lần, trước ăn 30ph
. Chân tay nặng nề gia Phòng kỷ 12
Có thể dùng Bát trân thang ,gia Hoài sơn, liên nhục
+ Châm cứu:
Bổ đại trữ, huyền chung, giáp tích, đại chùy, tỳ du, vị du, thận du, đại trường du, tam âm giao, túc tam lý. 20-30ph/lần ×1-2lần/ ngày.
. Cổ gáy đau, thêm: Phong trì, kiên tỉnh, đại trữ
. Lưng dưới đau kèm RLTH thêm Công tôn
-        Nhĩ châm: giao cảm,Tỳ, Vị, thận, chi trên, chi dưới,
Thời gian: 20-30ph/lần*1-2 lần/ngày
+ Xoa bóp bấm huyệt:
vùng cơ thể bị đau, nếu loãng xương nặng không thực hiện động tác vận động cột sống thắt lưng vì dễ gây tai biến.
Luyện thở, luyện ý, luyện hình, 20-30ph/lần×1-2lần/ ngày
Đọc thêm!

ĐÁI THÁO ĐƯỜNG


ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
1.     Thể v âm hư, tân dich khuy tn:
+ Chứng hậu: (SGK)
+ Biện chứng:
·       Do ăn uống không điều độ, ăn quá nhiều thứ béo ngọt hoặc uống quá nhiều rượu, ăn nhiều đồ xào nướng lâu ngày làm nung nấu, tích nhiệt ở Tỳ Vị. Nhiệt tích lâu ngày, nhiệt  tà thương âm, mộc uất khắc thổ nên Can nhiệt hun đốt tân dịch của Vị gây hao tổn tân dịch. Hay do bệnh của mẹ liên luỵ đến con, Tâm hoả quá thịnh cũng khiến Vị âm bị tổn hại.
·       Hoả nhiệt làm hao thương huyết và tân dịch. Tân dịch bất túc không đủ tư nhuận nên miệng khô hong táo.
·       Tân dịch thiếu còn làm các chất cận bã không chuyển hoá được mà khô kết lại ở đường ruột, sáp trệ và khó bài tiết gây Đái tiên bí kết
·       Âm hư sinh nội nhiệt nên Chất lưỡi đỏ. rêu lười vàng hoặc rêu lưỡi trắng. Tân dịch thiếu nên chất lưỡi khô
·       Can mộc uất nên mạch trầm huyền
·       Vị nhiệt quá thịnh, nhiệt làm ngấu nhừ đồ ăn chứa ở vị nhanh chóng nên bệnh nhân ăn nhiều mau đói. Sách Linh khu viết “Trong Vị nhiệt thì tiêu đồ ăn khiến người ta trống bụng mà hay đói”
·       Luận trị: Vị âm hư sinh nội nhiệt làm hao tổn tân dịch: dưỡng âm sinh tân.
2.     Thể vị âm hư. vi hoả vương;
+ Chứng hậu: (SGK)
+ Biện chứng:
·       Do ăn uống không điều độ, ăn quá nhiều thứ béo ngọt hoặc uống quá nhiều rượu, ăn nhiều đồ xào nướng lâu ngày làm tích nhiệt ở Vị. Nhiệt thịnh thương âm gây tổn thương đến Vị âm. Âm không đủ tiềm dương gây nên Vị hoả vượng
·       VỊ âm hư tổn, vị dương cang lên sinh hư nhiệt ở bên trong nên có cảm giác nóng trong. Nhiệt thịnh làm ngấu nhừ đồ ăn chứa ở vị nhanh chóng nên bệnh nhân ăn nhiều, mau đói.
·       Nhiệt thiêu đốt tân dịch làm tân dịch bất túc gây khát nước, uống nhiều.
·       Vị chủ về thông giáng, thức ăn sau khi làm nhừ ở Vị được đưa xuống tiểu trường. Chức năng của tiểu trường là phân thanh-trọc. Các chất thanh được tiểu trường hấp thu rồi đưa đi nuôi dưỡng toàn thân, phần cặn bã đưa xuống bàng quang bài tiết ra ngoài. Chất trọc được đưa tiếp xuống đại trường. Vị nhiệt làm thức ăn được ngấu nhừ nhanh chóng và đẩy xuống tiểu trường khiến khả năng hấp thu của tiểu trường bị rối loạn, tinh hoa của đồ ăn không kịp hấp thu mà dồn xuống bàng quang bài tiết ra ngoài nên bệnh nhân Tiều tiên nhiều lần, lương nhiều, nước tiểu vàng đục.
·       Tỳ chủ vận hoá, Vị chủ thu nạp. Tỳ - Vị là gốc của hậu thiên, cùng phối hợp mà hoá sinh ra khí huyết đi nuôi dưỡng cơ thể. Hoả nhiệt làm hao thương âm huyết và tân dịch, đồng thời tinh hoa của đồ ăn không được hấp thu khiến cơ bắp không được nuôi dưỡng gây Cảm giác mệt mỏi.
·       Nhiệt thịnh tân hao, các chất cặn bã không chuyển hoá được mà khô kết ở trong đường một nên đai tiên bí kết
·       Hoả nhiệt thiêu đốt tân dịch nên rêu lưỡi khô do tân dịch thiếu. Chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác.
·       Luận trị: - Vị âm hư sinh nội nhiệt: Tư âm thanh nhiệt.
3.     Thể khí âm lưỡng hư:
+ Chứng hậu: (SGK)
+ Bin chứng:
·       Do tình trí thất điều, suy nghĩ căng thẳng thái quá, hoặc do uất ức lâu ngày, lao tâm lao lực quá độ làm cho ngũ chí cực uất mà hoá hoả. Hoả thiêu đốt phế, vị, thận làm cho phế táo, vị nhiệt, thận âm hư.
·       Thận âm thông qua tam tiêu mà đến toàn thân, có vai trò phân bố bài tiết tân dịch và tạo thành huyết dịch. Thận âm hư thì tân khô huyết thiếu tân dịch giảm không đủ tư nhuận nên miệng khô họng táo.
·       Phế táo làm mất chức năng tuyên phát, tinh hoa thuỷ cốc không được đưa đi nuôi dưỡng cơ thể mà dồn xuống bàng quang khiến cơ thể kém được nuôi dưỡng, lại thêm ở người cao tuổi, ngũ tạng đều suy yếu nên gây ra mệt mỏi.
·       Phế khí hư tổn gây đoản khí. Sách Tạp bệnh quảng yếu có ghi: “Phế chủ khí mà thông với hô hấp. Tạng khí bất túc thì hô hấp nhỏ yếu mà thiểu khí”.
·       Tâm chủ thần minh. Khí huyết ở Tâm hư tổn gây hồi hộp, trống ngực. Có thể kèm theo tức ngực hoặc đau thất ngực. Mồ hôi là dịch của Tâm, Khí huyết ở Tâm không đầy đủ nên Tư hãn, Đạo hãn.
·       Thận tàng tinh, tinh sinh tuỷ, tuỷ ở trong cốt và nuôi dưỡng cốt. Thận khí suy giảm lại thêm tình trí thất điều, lao lực quá độ làm Thận tinh càng hao tổn, xương cốt kém được nuôi dưỡng gây ra Lưng gối mỏi yếu.
·       Can âm hư không tiềm dương. Can dương vượng lên che lấp khiếu trên gây ra Hoa mắt, chóng mặt, ù tai. Mặt khác, Can khai khiếu ra mắt, âm huyết ở Can hư tổn nên thị lực giảm,
·       Tỳ khai khiếu ra miệng. Tỳ khí hư không vận hoá nên chất lưỡi bêu, rêu lưỡi trắng.
·       Khí huyết đều suy tổn, lạc mạch rỗng không, tứ chi không được nuôi dưỡng nên phát sinh Chân tay tẽ bì, cảm giác vỏ lưc. Mạch hoạt vi
·       Luận tri: - Khí âm đều hư : ích khí dưỡng âm.

4.     Th thn âm hư:
+ Chứng hậu: (SGK)
+ Biện chứng:
·       Do tình trí thất điều, suy nghĩ căng thẳng thái quá hay uất ức lâu ngày, lao tâm lao lự quá độ làm chí cực uất mà hoá hoả. Hoả thiêu đốt Thận làm Thận âm hư; Hoặc do đam mê tửu sắc, sinh hoạt bừa bãi làm cho thận tinh khuy tổn, hư hoả nội sinh làm thuỷ kiệt thêm, Hoặc do dùng thuốc ôn táo kéo dài làm hao tổn chân âm cũng đưa đến Thận âm hư.
·       Thận âm hư, hoả thiêu đốt tận dịch khiến tân dịch thiếu mà không đủ tư nhuận gây ra miệng khát. Đi tin táo. Tiểu tin vàng sẫm. Rêu lưỡi khô.
·       Thận là tiên thiên chi bản, là nguồn của nguyên khí, nguyên dương, là khí chân dương. Người già nam trên 64 tuổi, nữ trên 49 tuổi, thiên quý kiệt, tiên thiên bất túc lại thêm sinh hoạt không điều độ làm hậu thiên thất dưỡng, khí huyết bất túc, cơ thể mất đi s nuôi dưỡng nên mệt mỏi.
·       Thận tàng tinh, tinh sinh tuỷ, tuỷ ở trong cốt và nuôi dưỡng cốt. Ở người cao tuổi thận tinh hư suy, xương cốt kém được nuôi dưỡng nên Lưng gối mỏi yếu.
·       Thận chủ thuỷ, Thận âm hư nên thận thuỷ không đủ. Thuỷ - hoả không hỗ trợ nha làm Tâm hoả động, tâm thần không yên nên bệnh nhân Ngủ ít hay mê.
·       Thận âm hư sinh nội nhiệt gây cảm giác nóng trong. Hoả nhiệt là dương tà nên tín thăng tán :có lúc bốc hoả. Nhiệt thịnh nên chất lưỡi đỏ. rêu lười vàng dày. Mạch trầm tế sác.
·       Luận trị: Thận âm hư sinh nội nhiệt:Tư bổ thận âm.
5.     Thể thn dương hư:
+ Chứng hậu: (SGK)
+ Bin chứng:
·       Thận là tiên thiên chi bản, nguồn của nguyên khí, nguyên dương, là khí chân dương. Người già nam trên 64 tuổi, nữ trên 49 tuổi, thiên quý kiệt, tiên thiên bất túc lại thêm không chú ý bảo dưỡng làm hậu thiên thất dưỡng hoặc phòng dục quá độ làm tổ thương chân âm, nguyên dương —> tinh huyết bất túc, ngũ tạng hư yếu —> Tinh khí củ ngũ tạng đưa đến tàng chứa ở Thận giảm sút dẫn tới tinh khuy dịch kiệt. Hoặc do dùng thuốc ôn táo kéo dài làm hao tổn âm dịch, làm hại chân âm, âm không tiềm dương - ảnh hưởng đến Thận dương.
·       Thận dương hư —> dương khí không có khả năng phân bố, khí hoá bất lợi, tân dịch không thăng lên trên nên dù miệng khô khát nhưng không muốn uống nước, Rêu lưỡi khô.
·       Tinh huyết bất túc, ngũ tạng hư yếu —> khí huyết không đủ để nuôi dưỡng cơ thể nên mệt mỏi, đoản khí. Mạch trầm vi vô lc.
·       Thận dương hư —> Dương khí suy vi, lực vận hành của khí kém nên không vận chuyển được ra ngoài cơ biểu, tứ chi để ôn ấm nuôi dưỡng huyết mạch —> bệnh nhân sợ lạnh, chân tay lạnh.
·       Thận chủ thuỷ, Thận dương hư không khí hoá được thuỷ —> Thuỷ dịch đi sai đường mà tràn ra cơ nhục, ra tứ chi gây phù mặt hoặc  chân. Thận dương bất túc làm khí huyết ngưng trệ lại thêm sắc của thuỷ màu đen —> sắc mặt u ám.
·       Thận chủ về cốt tuỷ, tinh huyết bất túc không nuôi dưỡng được cân cốt nên răng lung lay muốn rung. Ngoài ra, Thận khai khiếu ra tai, thận tinh hư tổn nên tai khô. Thận chủ về quá trình sinh dục và phát dục của cơ thể —> Thận tinh hư tổn nên Liệt dương.
·       Tỳ chủ về vận hoá thuỷ thấp, thuỷ cốc trong cơ thể, tính của Tỳ là ưa táo ghét thấp. Thận dương hư không khí hoá được thuỷ —> Thuỷ dịch đình lại trong cơ thể làm tổn thương đến chức năng vận hoá của Tỳ (Thấp khốn Tỳ) —> Tỳ vận hoá thất thường gây ra nê trệ nên bệnh nhân Không muốn ăn, Đại tiên lỏng hoặc lúc lỏng lúc táo.
·       Thận khí hoá và tham gia phân bố thuỷ dịch trong cơ thể. Thận dương hư không trưng đốt được thuỷ dịch, thanh trọc không phân hoá được, lẫn lộn nhau dồn xuống bàng quang ra ngoài gây ra tiểu tiện đục, lượng nhiều.
·       Thận dương hư sinh hàn, tính của hàn là ngưng trệ —> khí trệ huyết ứ nên chất lưỡi đậm tía, rêu lưỡi trắng.
·       Luận trị: Thận dương hư, thận khí hư: Bổ dương, ích khí, dưỡng thận.
Đọc thêm!