ĐÁI THÁO ĐƯỜNG


ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
1.     Thể v âm hư, tân dich khuy tn:
+ Chứng hậu: (SGK)
+ Biện chứng:
·       Do ăn uống không điều độ, ăn quá nhiều thứ béo ngọt hoặc uống quá nhiều rượu, ăn nhiều đồ xào nướng lâu ngày làm nung nấu, tích nhiệt ở Tỳ Vị. Nhiệt tích lâu ngày, nhiệt  tà thương âm, mộc uất khắc thổ nên Can nhiệt hun đốt tân dịch của Vị gây hao tổn tân dịch. Hay do bệnh của mẹ liên luỵ đến con, Tâm hoả quá thịnh cũng khiến Vị âm bị tổn hại.
·       Hoả nhiệt làm hao thương huyết và tân dịch. Tân dịch bất túc không đủ tư nhuận nên miệng khô hong táo.
·       Tân dịch thiếu còn làm các chất cận bã không chuyển hoá được mà khô kết lại ở đường ruột, sáp trệ và khó bài tiết gây Đái tiên bí kết
·       Âm hư sinh nội nhiệt nên Chất lưỡi đỏ. rêu lười vàng hoặc rêu lưỡi trắng. Tân dịch thiếu nên chất lưỡi khô
·       Can mộc uất nên mạch trầm huyền
·       Vị nhiệt quá thịnh, nhiệt làm ngấu nhừ đồ ăn chứa ở vị nhanh chóng nên bệnh nhân ăn nhiều mau đói. Sách Linh khu viết “Trong Vị nhiệt thì tiêu đồ ăn khiến người ta trống bụng mà hay đói”
·       Luận trị: Vị âm hư sinh nội nhiệt làm hao tổn tân dịch: dưỡng âm sinh tân.
2.     Thể vị âm hư. vi hoả vương;
+ Chứng hậu: (SGK)
+ Biện chứng:
·       Do ăn uống không điều độ, ăn quá nhiều thứ béo ngọt hoặc uống quá nhiều rượu, ăn nhiều đồ xào nướng lâu ngày làm tích nhiệt ở Vị. Nhiệt thịnh thương âm gây tổn thương đến Vị âm. Âm không đủ tiềm dương gây nên Vị hoả vượng
·       VỊ âm hư tổn, vị dương cang lên sinh hư nhiệt ở bên trong nên có cảm giác nóng trong. Nhiệt thịnh làm ngấu nhừ đồ ăn chứa ở vị nhanh chóng nên bệnh nhân ăn nhiều, mau đói.
·       Nhiệt thiêu đốt tân dịch làm tân dịch bất túc gây khát nước, uống nhiều.
·       Vị chủ về thông giáng, thức ăn sau khi làm nhừ ở Vị được đưa xuống tiểu trường. Chức năng của tiểu trường là phân thanh-trọc. Các chất thanh được tiểu trường hấp thu rồi đưa đi nuôi dưỡng toàn thân, phần cặn bã đưa xuống bàng quang bài tiết ra ngoài. Chất trọc được đưa tiếp xuống đại trường. Vị nhiệt làm thức ăn được ngấu nhừ nhanh chóng và đẩy xuống tiểu trường khiến khả năng hấp thu của tiểu trường bị rối loạn, tinh hoa của đồ ăn không kịp hấp thu mà dồn xuống bàng quang bài tiết ra ngoài nên bệnh nhân Tiều tiên nhiều lần, lương nhiều, nước tiểu vàng đục.
·       Tỳ chủ vận hoá, Vị chủ thu nạp. Tỳ - Vị là gốc của hậu thiên, cùng phối hợp mà hoá sinh ra khí huyết đi nuôi dưỡng cơ thể. Hoả nhiệt làm hao thương âm huyết và tân dịch, đồng thời tinh hoa của đồ ăn không được hấp thu khiến cơ bắp không được nuôi dưỡng gây Cảm giác mệt mỏi.
·       Nhiệt thịnh tân hao, các chất cặn bã không chuyển hoá được mà khô kết ở trong đường một nên đai tiên bí kết
·       Hoả nhiệt thiêu đốt tân dịch nên rêu lưỡi khô do tân dịch thiếu. Chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác.
·       Luận trị: - Vị âm hư sinh nội nhiệt: Tư âm thanh nhiệt.
3.     Thể khí âm lưỡng hư:
+ Chứng hậu: (SGK)
+ Bin chứng:
·       Do tình trí thất điều, suy nghĩ căng thẳng thái quá, hoặc do uất ức lâu ngày, lao tâm lao lực quá độ làm cho ngũ chí cực uất mà hoá hoả. Hoả thiêu đốt phế, vị, thận làm cho phế táo, vị nhiệt, thận âm hư.
·       Thận âm thông qua tam tiêu mà đến toàn thân, có vai trò phân bố bài tiết tân dịch và tạo thành huyết dịch. Thận âm hư thì tân khô huyết thiếu tân dịch giảm không đủ tư nhuận nên miệng khô họng táo.
·       Phế táo làm mất chức năng tuyên phát, tinh hoa thuỷ cốc không được đưa đi nuôi dưỡng cơ thể mà dồn xuống bàng quang khiến cơ thể kém được nuôi dưỡng, lại thêm ở người cao tuổi, ngũ tạng đều suy yếu nên gây ra mệt mỏi.
·       Phế khí hư tổn gây đoản khí. Sách Tạp bệnh quảng yếu có ghi: “Phế chủ khí mà thông với hô hấp. Tạng khí bất túc thì hô hấp nhỏ yếu mà thiểu khí”.
·       Tâm chủ thần minh. Khí huyết ở Tâm hư tổn gây hồi hộp, trống ngực. Có thể kèm theo tức ngực hoặc đau thất ngực. Mồ hôi là dịch của Tâm, Khí huyết ở Tâm không đầy đủ nên Tư hãn, Đạo hãn.
·       Thận tàng tinh, tinh sinh tuỷ, tuỷ ở trong cốt và nuôi dưỡng cốt. Thận khí suy giảm lại thêm tình trí thất điều, lao lực quá độ làm Thận tinh càng hao tổn, xương cốt kém được nuôi dưỡng gây ra Lưng gối mỏi yếu.
·       Can âm hư không tiềm dương. Can dương vượng lên che lấp khiếu trên gây ra Hoa mắt, chóng mặt, ù tai. Mặt khác, Can khai khiếu ra mắt, âm huyết ở Can hư tổn nên thị lực giảm,
·       Tỳ khai khiếu ra miệng. Tỳ khí hư không vận hoá nên chất lưỡi bêu, rêu lưỡi trắng.
·       Khí huyết đều suy tổn, lạc mạch rỗng không, tứ chi không được nuôi dưỡng nên phát sinh Chân tay tẽ bì, cảm giác vỏ lưc. Mạch hoạt vi
·       Luận tri: - Khí âm đều hư : ích khí dưỡng âm.

4.     Th thn âm hư:
+ Chứng hậu: (SGK)
+ Biện chứng:
·       Do tình trí thất điều, suy nghĩ căng thẳng thái quá hay uất ức lâu ngày, lao tâm lao lự quá độ làm chí cực uất mà hoá hoả. Hoả thiêu đốt Thận làm Thận âm hư; Hoặc do đam mê tửu sắc, sinh hoạt bừa bãi làm cho thận tinh khuy tổn, hư hoả nội sinh làm thuỷ kiệt thêm, Hoặc do dùng thuốc ôn táo kéo dài làm hao tổn chân âm cũng đưa đến Thận âm hư.
·       Thận âm hư, hoả thiêu đốt tận dịch khiến tân dịch thiếu mà không đủ tư nhuận gây ra miệng khát. Đi tin táo. Tiểu tin vàng sẫm. Rêu lưỡi khô.
·       Thận là tiên thiên chi bản, là nguồn của nguyên khí, nguyên dương, là khí chân dương. Người già nam trên 64 tuổi, nữ trên 49 tuổi, thiên quý kiệt, tiên thiên bất túc lại thêm sinh hoạt không điều độ làm hậu thiên thất dưỡng, khí huyết bất túc, cơ thể mất đi s nuôi dưỡng nên mệt mỏi.
·       Thận tàng tinh, tinh sinh tuỷ, tuỷ ở trong cốt và nuôi dưỡng cốt. Ở người cao tuổi thận tinh hư suy, xương cốt kém được nuôi dưỡng nên Lưng gối mỏi yếu.
·       Thận chủ thuỷ, Thận âm hư nên thận thuỷ không đủ. Thuỷ - hoả không hỗ trợ nha làm Tâm hoả động, tâm thần không yên nên bệnh nhân Ngủ ít hay mê.
·       Thận âm hư sinh nội nhiệt gây cảm giác nóng trong. Hoả nhiệt là dương tà nên tín thăng tán :có lúc bốc hoả. Nhiệt thịnh nên chất lưỡi đỏ. rêu lười vàng dày. Mạch trầm tế sác.
·       Luận trị: Thận âm hư sinh nội nhiệt:Tư bổ thận âm.
5.     Thể thn dương hư:
+ Chứng hậu: (SGK)
+ Bin chứng:
·       Thận là tiên thiên chi bản, nguồn của nguyên khí, nguyên dương, là khí chân dương. Người già nam trên 64 tuổi, nữ trên 49 tuổi, thiên quý kiệt, tiên thiên bất túc lại thêm không chú ý bảo dưỡng làm hậu thiên thất dưỡng hoặc phòng dục quá độ làm tổ thương chân âm, nguyên dương —> tinh huyết bất túc, ngũ tạng hư yếu —> Tinh khí củ ngũ tạng đưa đến tàng chứa ở Thận giảm sút dẫn tới tinh khuy dịch kiệt. Hoặc do dùng thuốc ôn táo kéo dài làm hao tổn âm dịch, làm hại chân âm, âm không tiềm dương - ảnh hưởng đến Thận dương.
·       Thận dương hư —> dương khí không có khả năng phân bố, khí hoá bất lợi, tân dịch không thăng lên trên nên dù miệng khô khát nhưng không muốn uống nước, Rêu lưỡi khô.
·       Tinh huyết bất túc, ngũ tạng hư yếu —> khí huyết không đủ để nuôi dưỡng cơ thể nên mệt mỏi, đoản khí. Mạch trầm vi vô lc.
·       Thận dương hư —> Dương khí suy vi, lực vận hành của khí kém nên không vận chuyển được ra ngoài cơ biểu, tứ chi để ôn ấm nuôi dưỡng huyết mạch —> bệnh nhân sợ lạnh, chân tay lạnh.
·       Thận chủ thuỷ, Thận dương hư không khí hoá được thuỷ —> Thuỷ dịch đi sai đường mà tràn ra cơ nhục, ra tứ chi gây phù mặt hoặc  chân. Thận dương bất túc làm khí huyết ngưng trệ lại thêm sắc của thuỷ màu đen —> sắc mặt u ám.
·       Thận chủ về cốt tuỷ, tinh huyết bất túc không nuôi dưỡng được cân cốt nên răng lung lay muốn rung. Ngoài ra, Thận khai khiếu ra tai, thận tinh hư tổn nên tai khô. Thận chủ về quá trình sinh dục và phát dục của cơ thể —> Thận tinh hư tổn nên Liệt dương.
·       Tỳ chủ về vận hoá thuỷ thấp, thuỷ cốc trong cơ thể, tính của Tỳ là ưa táo ghét thấp. Thận dương hư không khí hoá được thuỷ —> Thuỷ dịch đình lại trong cơ thể làm tổn thương đến chức năng vận hoá của Tỳ (Thấp khốn Tỳ) —> Tỳ vận hoá thất thường gây ra nê trệ nên bệnh nhân Không muốn ăn, Đại tiên lỏng hoặc lúc lỏng lúc táo.
·       Thận khí hoá và tham gia phân bố thuỷ dịch trong cơ thể. Thận dương hư không trưng đốt được thuỷ dịch, thanh trọc không phân hoá được, lẫn lộn nhau dồn xuống bàng quang ra ngoài gây ra tiểu tiện đục, lượng nhiều.
·       Thận dương hư sinh hàn, tính của hàn là ngưng trệ —> khí trệ huyết ứ nên chất lưỡi đậm tía, rêu lưỡi trắng.
·       Luận trị: Thận dương hư, thận khí hư: Bổ dương, ích khí, dưỡng thận.