Mắt 11-20
Câu 11:Nguyên nhân viêm loét giác mạc
* Do vi khuẩn
- Mọi VK đều có thể gây viêm loét giác mạc: giang mai, liên cầu, tụ cầu, lậu cầu, trực khuẩn mủ xanh
- Xâm nhập theo đường ngoại sinh:
+ Không khí, nước
+ Tác nhân gây vi chấn thương: hạt bụi, hạt thóc, lá lúa…
- Xâm nhập theo đường nội sinh:
+ Theo đường máu là chủ yếu: Loét ở rìa giác mạc: giang mai, tụ cầu, liên cầu, đôi khi lậu cầu
Viêm nội mô
Viêm nhu mô giác mạc do Herpes
- VK cơ hội: Bình thường trong túi cùng kết mạc, bờ mi, đường lệ đọa có nhiều loại VK, VR, nấm có khả năng gây bệnh nhưng chúng tạo nên 1 quần thể sinh thái cân bằng. Khi có điều kiện thuận lợi, 1 trong các VK trên đây có thể thành độc tính gây bệnh.
* Do nấm
- Nhiều ở các nước nhiệt đới
- Các loại nấm: Candida, aspergillus, cephalosporium
- Khi có tác nhân của lông gia cầm hoặc thảo mộc quệt vào mắt, bắn vào mắt
* Do Virus
- Herpes và Zona có cấu trúc gần giống nhau là những VR ái thần kinh ngoại mô
* Loét do dinh dưỡng
- Liệt dây thần kinh ngoại biên gây hở giác mạc + giác mạc không có film nước mắt làm tế bào biểu mô chết nhanh và chết nhiều do không được nuôi dưỡng -> loét
- Liệt V1 làm mất cảm giác giác mạc -> ko đáp ứng và ko có cảm giác với mọi tác nhân chấn thương + giác mạc ko được dinh dưỡng -> loét giác mạc
- Hở khuyết mi bẩm sinh hoặc mắc phải do chấn thương hoặc do bỏng mắt
- Thiếu Vitamin A
* Loét do điều trị sai
- Điều trị bằng thịt đùi ếch nhái (thường xuyên có ấu trùng sán nhái trong tổ chức hốc mắt)
- Điều trị mộng thịt: cắt bằng lông gà lông ngỗng -> loét do nấm, dùng tre nứa ->loét do VK, dùng lưỡi -> loét do VR, Nấm, VK.
----------------------------------
Câu 12: TB triệu chứng chung của loét Giác mạc?
TL:
Loét giác mạc mang tính chất phổ biến vì giác mạc là bộ phận đầu tiên thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài, nên các vi chấn thương vào nhãn cấu phần lớn đi qua giác mạc. Ngoài ra loét giác mac cong mang tính chất trầm trọng và cấp cứu vì loét giác mạc là hoại tử, ít hoặc nhiều sẽ để lại vết sẹo trên giác mạc, giảm thị lực, loét GM làm trơ các đầu mút thần kinh Gm dẫn đến đau rứt, hoang mang, sẽ nặng lên nếu k đc phát hiện và điều trị sớm.
1. Triệu chứng cơ năng?
- Kích thích: đau rứt, chảy nước mắt, sợ ánh sang, kích thích càng nhiều nếu ổ loét càng rộng và càng nông.
- Nhìn mờ: mờ ít hay nhiều phụ thuộc vào ổ loét nông hay sâu, ngoại vi ở trung tâm nhỏ hay lớn.
2. Thực thể:
- Có dấu hiệu CTR (+) => (+++) (nhẹ cuơng tụ => cương tụ nặng) : do cương tụ mạch máu, nhất là ĐM mi ngắn trước.
- Có ổ loét trên giác mạc.
+ Vị trí: do chấn thương ban đầu, do vị trí của sẹo cũ.
Nếu loét do tụ cầu, lien cầu… => loét thường ở chu vi giác mạc.
+ Hình thể và mầu sắc: ổ loét trắng, bẩn, hình thể tùy theo tác nhân: như đầu đinh ghim: với tụ cầu hay như hình cung với trực khuẩn mủ xanh, hay như hình bản đồ với Herpes.
+ Kích thước:
+ Đáy ổ loét: thường lõm sâu xuống so với tổ chức giác mạc lành như hình 1 lòng chảo và chứa các chất, loại trừ khi làm nghiệm pháp nhuộm màu fluorecein hoặc thuốc đỏ => có KQ Fluo (+) (ổ loét bắt màu thuốc nhuộm)
Hoại tử có thể ít hoặc nhiều, nhanh hay chậm tùy theo tác nhân gây bệnh.
Ví dụ: Herpes => chậm; TK mủ xanh, lậu cầu => nhanh.
- Bờ ổ loét: thường phù nề thâm nhiễm => làm cho giác mạc ở đây mờ hơn và nổi cao hơn so với giác mạc lành. Tác nhân gây bệnh ăn ở dưới bờ ổ loét, tạo 1 đường ngầm và từ đây tạo ra 1 ổ loét mới.
- Cảm giác giác mạc:
+ Thường giảm hoặc mất đi với tác nhân virus => ở ổ loét, bồ ổ loét.
+ Thương tăng lên với tác nhân vi khuẩn.
- Phản ứng của tiền phòng (phản ứng màng bồ đào trước): luôn có phản ứng tiền phòng (vì loét giác mạc => tác nhân gây bệnh ở bờ ổ loét=> lan ra xương và đầu mạch máu vùng rìa => huy động các yếu tố viêm đến => dịch gỉ viêm tập trung nhiều trong thủy dịch có nhiều yếu tố viêm). Mức độ phản ứng:
+ Tyndal (+): là dấu hiệu nhẹ (ở tự nhiên: ở buổi sang, có ánh sang chiếu qua lỗ trần nhà => tia sang chiếu xuống => thấy các hạt bụi vận cuộn như chuyển động Brown of photon) ánh sáng rất nhỏ nét chiếu qua tiền phòng => thấy thủy dịch cuồn cuộn.
+ Mủ tiền phòng: là dấu hiệu nặng. Các TB viêm và tác nhân viêm lắng đọng xuống phía dưới.
- Mủ vô trùng: loét nhưng chưa thủng giác mạc.
- Mủ hữu trùng: loét có thủng giác mạc.
- Các triệu chứng khác:
+ Thị lực giảm: 7/10 => thấy bong bàn tay => sang tối (+).
+ Nhãn áp: phần lớn bt, có thể tăng do thủy dịch tăng tiết + tăng các yếu tố trong thủy dịch.
+ Đồng tử, thể thủy tinh, đáy mắt => có thể bt, bệnh lý tùy ca.
Ví dụ: phản ứng màng bồ đào trước => có thể gây dính đồng tử.
Phản ứng màng bồ đào sau => có thể gây đục thủy tinh thể.
3. Tiến triển:
- Tốt: ổ loét dừng lại, khỏi thành sẹo.
- Xấu: ổ loét tiếp tục to ra, ăn sâu hơn nhưng chưa thủng => khỏi => tạo sẹo lớn hơn và dày.
- Rất xấu: mặc dù được điều trị tích cực mà ổ loét vẫn tiếp tục lan rộng, sâu => gây thủng giác mạc => gây viêm mủ ổ nhãn => chỉ còn cách khoét bỏ.
-----------------------------------
Câu 13: Trình bày thể viêm loét giác mạc do lậu cầu?
Viêm loét giác mạc là một bệnh mang các tính chất:
Tính chất phổ biến (vì giác mạc là bộ phận đầu tiên thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài).
Mang tính chất trầm trọng vì loét giác mạc là hoại tử, nên ít hay nhiều cũng để lại sẹo trên giác mạc gây mất tính chất trong suốt của giác mạc => thị lực giảm.
Và mang tính cấp cứu nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, loét gây trơ các đầu mút TK giác mạc gây đau rức, hoang mang, có tính chất hoại tử, ổ loét sẽ to và rộng dần.
Có nhiều nguyên nhân gây ra viêm loét giác mạc, trong đó lậu cầu là một nguyện nhân gây bệnh.
1. Tính chất sinh vật hóa học:
- Là song cầu khuẩn Gram (-) hình hạt cafe.
- Thời gian ủ bệnh 2 đến 4 ngày đến =< 7 ngày. 2. Cơ chế lây truyền với tuần đầu lậu cầu mắt. - Lậu cầu không có trong máu, thường gậy bệnh ở BP SD. - Chia ra các cơ chế: + Trẻ sơ sinh: Bị trong tuần đầu: do mẹ bị lậu SD => truyền vào mắt con trong quá trình đẻ. Thường bị cả hai mắt mang tính chất tối cấp.
Bị sau một tuần: do y tế: thuốc nhỏ mắt, nước tắm, bông, gạc làm nhiễm lậu cầu từ một sản phụ hoặc đứa trẻ sơ sinh khác vào mắt đứa trẻ
+ Thiếu niên- nhi đồng:
Dùng chung đồ với người lớn bị lậu SD (nước rửa, khăn mặt...)
Do bể bơi.
+ Người trưởng thành:
Người có quan hệ tình dục: do có quan hệ với người bị lậu SD rồi làm nhiễm lậu lên mắt theo cơ chế tay- mắt. Thường bị 1 mắt.
Dùng chung đồ.
3. Triệu chứng:
- Mang tính chất rất cấp tính: hoại tử mủ rất nhanh và rầm rộ, mủ rất nhiều, loãng trắng hoặc trắng ngà (2 mắt trẻ sơ sinh dính tịt và có dòng mủ trắng chảy ra bên khóe mắt. Kiểm tra: vén mi ra => mủ bật ra rất nhiều => rửa sạch => chỉ 5 phút sau lại vén mi tiếp, mủ lại trào ra).
- Biểu hiện sớm nhất (ban đầu) thường là viêm kết mạc cấp có hoại tử mủ => làm cho kết mạc, đặc biệt là kết mạc nhãn cầu dày lên và tăng sản, có thể bò vào một phần của vùng rìa giác mạc và che phủ phần giác mạc này.
- Khi dùng que thủy tinh lật phần giác mạc này lên thì thấy những ổ viêm nhỏ thuộc bình diện biểu mô và dưới biểu mô giác mạc => những ổ viêm phát triển rất nhanh, tạo nên những ổ loét giác mạc hình răng cưa => những ổ loét này rất nhanh đúc nhập với nhau để tạo nên một ổ loét giác mạc lớn.
4. Chẩn đoán: Dựa vào lâm sàng và xét nghiệm.
- Lấy mủ phết lên lam kính => nhuộm Giemsa => soi tươi thấy vi khuẩn lậu cầu ( thấy Gono (+)).
5. Điều trị: Có nhiều thuốc đặc trị:
- Penicillin: + Pha rỏ liên tục 3-5 phút/ lần x 2 đến 3 giọt/ lần, nồng độ PNC 20.000- 30.000 UI/ml.
+ Pha để truyền rửa: Dòng PNC 30- 40 giọt/ phút để cho dịch chảy từ góc trong đến góc ngoài, nồng độ PNC 20.000 UI/ml.
+ Tiêm bắp hoặc tiêm dưới kết mạc: áp dụng cho người lớn vì rất đau.
Nhỏ đến khi hết mủ 1 ngày thì dừng lại.
-------------------------------------
Câu 14: Trình bày triệu chứng, điều trị của viêm mống mắt thể mi?
TL:
Màng bồ đào là một màng mạch máu dày đặc, cấu tạo thành lớp bọc thứ 2 của nhãn cầu. Màng bồ đào gồm 3 phần: Mống mắt, thể mi và hắc mạc. Mống mắt và thể mi gọi là màng bồ đào trước; hắc mạc gọi là màng bồ đào sau. Viêm mống mắt thể mi:
1. Triệu chứng:
- Triệu chứng chủ quan:
+ Đau nhức mắt âm ỉ, đau giảm sau khi làm giãn đống tử làm đứt các chỗ dính mống mắt.
+ Thị lực giảm nhiều do đục thủy dịch, đau dội lên lúc ấn vào vùng thể mi hoặc lúc vận chuyển nhãn cầu.
+ Đo kích thích các nhánh cuối của dây TK sinh ba nên BN sợ ánh sáng, chảy nước mắt, co quắp mi.
+ Có dấu hiệu ruồi bay.
- Triệu chứng khách quan:
+ Rối loạn các môi trường trong suốt của mắt:
. Thủy dịch chứa nhiều albumin, bạch cầu... nên bị vẩn đục, có khi có mủ ở tiền phòng.
. Chất lắng đọng ở mắt sau giác mạc: viêm màng Descemet.
. Thể chơi với trong thủy tinh dịch.
+ Thay đổi nhãn áp:
. Nhãn áp có thể tăng do mống mắt bị dính bít, thủy tinh ứ lại trong hậu phòng, hoặc do các tế bào viêm đọng lại ở vùng bẻ củng mạc, ống Sehlenmm, khiến cho trở lưu thủy dịch tăng lên.
. Có khi nhãn áp hạ do thể mi bị liệt tiết ra quá ít thủy dịch.
2. Điều trị:
Do tính chất nguy hiểm của bệnh, do việc tìm nguyên nhân gây bệnh rất khó, cần nhiều thời gian nên điều trị viêm mống mắt thể mi phải dựa vào 2 ngtắc sau đây:
- Điều trị nhanh, tích cực.
- Trong giai đoạn đầu của bệnh, điều trị bán đặc hiệu là chính.
a. Điều trị bán đặc hiệu:
- Chống dính mống mắt: làm giãn được đồng tử sẽ:
+ Tránh được dính mống mắt.
+ Làm giảm đau nhức do co thắt cơ thể mi và cơ vòng đồng tử.
- Thuốc thường dùng:
+ Rỏ atropin 1%, rỏ 3 lần/ ngày.
+ Tiêm adrenalin hay adrenalin trộn atropin tiêm dưới kết mạc bởi điểm quanh rìa giác mạc. Làm giãn đồng tử là việc quan trọng bậc nhất.
- Chống dị ứng: rỏ Cortison 1%, 3-6 lần/ngày. Tiêm hydrocorlancy dưới kết mạc, uống Cortison, tiêm ACTH.
- Chống đau nhức: chườm nóng bằng gạc ướt.
- Tiêm novocain 4% 2ml + vài giọt adrenalin sau nhãn cầu.
- Tăng cường sức đề kháng của cơ thể: có mục đích làm tăng kháng thể của cơ thể, tăng bạch cầu. Tiêm bắp thịt propidon, sữa.
- Chống chỉ định: suy tim, suy gan, bệnh thận, lao, đái tháo đường, xơ cứng, động mạch.
b. Điều trị đặc hiệu: Tùy theo nguyên nhân: lao, giang mai, thấp khớp...
Cắt bỏ 1 amidan có mủ, nhổ 1 cái răng bị viêm tủy... trong nhiều trường hợp đã cắt đứt nguồn bệnh. Khi không tìm thấy nguyên nhân, nên cho dùng các kháng sinh có tác dụng rộng.
--------------------------------------
Câu 15. Tiến triển của Glocom góc đóng:
Glocom là một hội chứng được thể hiện trên lâm sàng bằng tam chứng Glocom:
- Tăng nhãn áp.
- Giảm sút chức năng thị giác.
- Tổn thương thị TK.
Glocom cương tụ và glocom đỏ (rouge) do rìa mắt đỏ được gọi là Glocom góc đóng. Ở Việt Nam, đa số bệnh nhân đến bệnh viện trong giai đoạn quá muộn nên kết quả điều trị thường hạn chế. Tiến triển của Glocom góc đóng:
- Không có theo quy luật vì không có giai đoạn nhất định.
- Có thể tiến triển theo 3 kiểu:
a. Cơn Glocom nhẹ:
- Mắt hơi nhức, hơi mờ, nhìn vào đèn thấy quầng xanh đỏ.
- Nhức lên nửa đầu cùng bên.
- Xem mắt lúc đó thấy:
+ Dầu hiệu cương tụ rìa đỏ.
+ Đồng tử giãn.
+ Phản xạ kém nhạy.
+ Nhãn áp tăng.
- Do mất thăng bằng TKTV -> Góc tiền phòng hẹp -> Nhãn áp tăng.
- Cơn này có thể tự khỏi do lập lại cân bằng TK ∑ và ∑ -> các mạch máu hết cương tụ.
- Sau đó là các bán cấp hoặc cấp xuất hiện sau này.
- Cơn Glocom nhẹ có thể xảy ra ở 1 mắt.
b. Cơn cấp Glocom:
- Điều kiện xảy ra:
+ Trên 1 cơ thể sau những lần chấn động về tinh thần, sau những làm việc quá mệt mỏi -> mệt mỏi về điều tiết của mắt -> thể thủy tinh không cong được nữa + đồng tử giãn ra -> góc tiền phòng hẹp lại -> nhãn áp tăng.
+ Thường xuất hiện ở nữ > nam.
- Cơn Glocom cấp có thể xảy ra ở 1 hoặc 2 mắt.
- Đột nhiên mắt đau dữ dội, lan lên đầu cùng bên, có thể đau đến mức nôn mửa.
- Sợ ánh sáng, chảy nước mắt, nhìn vào đèn thấy các quầng xanh quầng đỏ, thị lực giảm nhanh và nhiều.
- Khám thực thể:
+ Giác mạc bị phù nề do thẩm lậu nước.
+ Tiền phòng hẹp: <2mm (Bt: 3-4mm). + Đồng tử giãn, mất phản xạ. + Soi đáy mắt: cương tụ. + Đo nhãn áp: cao. + Soi góc tiền phòng: góc tiền phòng đóng lại. - Cơn Glocom cấp có thể: + Tự khỏi => chờ đón các cơn Glocom khác với tần số mau.
+ Kéo dài => mù lòa: do đồng tử giãn => cương tụ các mạch máu ở chân rìa đồng tử => gây thoát dịch => gây dính góc tiền phòng. Soi góc tiền phòng thấy dính > ½ chu vi giác mạc => nhãn áp tăng vĩnh viễn.
c. Cơn Glocom bán cấp:
- Nhẹ hơn cơn Glocom cấp nhưng nặng hơn cơn Glocom nhẹ.
+ Triệu chứng cơn Glocom cấp.
+ Phản xạ đồng tử vẫn còn.
+ Nhãn áp >35D.
2. Điều trị cơn Glocom cấp:
a. Nguyên tắc:
- Giảm đau.
- An thần.
- Dùng thuốc hạ áp.
b. Cụ thể:
- Paracetamol 500mg, Voltaren 75mg, ...
- An thần loại không gây nghiện, vd seduxen 5mg, Diazepam 5mg.
- Thuốc hạ áp:
+ Thuốc co đồng tử Pilocarpin 1%, 2%, 5%
+ Thuốc hạ nhãn áp: thuốc toàn thân Acètezodamid (thuốc loại Sulfamide lợi tiểu => giảm tiết=> hạ nhãn áp).
Dùng 2 đến 4 viên Diuramit 0,25 (tốt nhất 2 viên: Diamox)
Có tác dụng sau khi uống 30 phút => tác dụng trong cơ thể trong 6h => đào thải.
-------------------------------------------------------
Câu 16. Tiến triển của Glocom góc mở:
Còn được gọi là Glocom đơn thuần (Simplex), Glocom trắng (Blanche).
- Glocom góc mở tiển triển rất thầm lặng, từ từ (do xơ hóa dần dần) nhưng rất trầm trọng, theo giai đoạn.
- Nhãn áp tăng từ từ, từ từ (do xơ hóa dần dần) => cơ chế thích nghi được => bệnh nhân không cảm thấy đau đớn.
- Những tổn hại do Glocom gây nên không bao giờ hổi phục được.
- Do tiến triển từ từ nên các dấu hiệu chẩn đoán rất lu mờ và dễ bỏ sót.
a. Giai đoạn 1: sơ phát.
- Dấu hiệu chủ quan rất ít.
- Hơi nhức mắt, hơi nhức đầu.
- Có cảm giác như có sương mù trước mắt.
- Nhãn áp hơi cao.
- Khám mắt: chưa phát hiện được gì, chỉ thấy đĩa thị bị tổn hại.
Đo thị trường: thị trường hơi hẹp về phía mũi.
- Chẩn đoán dựa vào:
+ Nhãn áp hơi cao.
+ Thị trường hơi hẹp về phía mũi.
+ Thị TK bị tổn thương.
b. Giai đoạn 2: Tiến triển.
- Các dấu hiệu chủ quan có vẻ rõ hơn nhưng tìm ra rất khó.
- Thực thể và chẩn đoán dựa vào:
+ Thị trường hẹp 30º về phía mũi.
+ Nhãn áp luôn luôn cao.
+ Teo lòm thị TK (ở đáy mắt) rõ ràng.
- Giác mạc bình thường.
- Tiền phòng vẫn rộng.
- Đồng tử vẫn tròn, có thể hơi giãn và phản xạ hơi yếu.
c. Giai đoạn 3: trầm trọng.
- Dấu hiệu chủ quan rất nghèo nàn.
- Thị trường hẹp nhiều 45º về phía mũi.
- Thị TK teo lõm gần như hoàn toàn.
- Nhãn áp luôn luôn cao.
d. Giai đoạn 4: Glocom gần mù.
- Thị lực giảm.
- Thị trường không thể đo được.
- Thị TK hoàn toàn bị teo lõm.
- Nhãn áp luôn cao.
e. Giai đoạn 5: Glocom mù hoàn toàn.
-------------------------------------------------------
Câu 17: Đục thể thủy tinh: định nghĩa, triệu chứng lâm sàng, biến chứng.
1. Định nghĩa:
Đục thể thủy tinh là tình trạng mờ đục của thể thủy tinh, đây là nguyên nhân chủ yếu gây mù lòa của thế giới, tuy nhiên đục thể thủy tinh ngay cả trường hợp đục hoàn toàn cũng không gây ra mù hoàn toàn (mất nhận thức ánh sáng).
2. Triệu chứng lâm sàng:
2.1. Triệu chứng cơ năng:
- Giảm thị lực từ từ kèm theo cảm giác nhìn mờ như mây mù, màng che trước mắt. Đầu tiên thì mờ khi nhìn xa, rồi đến mờ khi nhìn gần. Thường ở giai đoạn sớm, bệnh nhân thấy điểm đen trước mắt, điểm đen di động theo sự vận động của con mắt. Một số người lớn tuổi có hiện tượng giảm số kính đọc sách, hoặc nhận thấy nhìn gần rõ hơn do sự xơ cứng của nhân làm tăng công suất khúc xạ của thể thủy tinh và gây cận thị ở mức độ nhẹ hoặc trung bình. Thông thường bệnh nhân bị đục thể thủy tinh hay phàn nàn bị lóa mắt nhất là khi gặp ánh sáng mạnh hoặc nhìn có nhiều quầng màu sắc.
- Song thị một mắt, thậm chí nhìn thấy nhiều hình.
- Tăng nhãn áp do tăng phồng thể thủy tinh.
2.2. Dấu hiệu thực thể:
Bệnh tiến triển theo 4 thời kì.
- Thủy tinh thể bắt đầu đục, phần chu vi bị đục trước. Thị lực bị ảnh hưởng ít, có hiện tượng bóng treo, bóng treo càng rộng, phần thủy tinh thể bị đục càng ít. Lúc khám bệnh, cần nhỏ homatropin, làm giãn đồng tử để phát hiện được dễ dàng.
- Thủy tinh thể căng phồng do hiện tượng giữ nước. Thủy tinh thể bị đục nhiều, tiền phòng nông. Bóng treo không còn, thị lực bị giảm sút rất nhiều. Trong giai đoạn này, tiền phòng bị hẹp, lưu thông thủy tinh dịch bị cản trở, có thể xuất hiện cơn tăng nhãn áp.
- Giai đoạn chín: Thủy tinh thể đục hoàn toàn, thể tích thu nhỏ lại như trước, thị lực chỉ còn sáng tối.
- Giai đoạn quá chín: Thủy tinh thể có thể thoái hóa theo 2 hình thái: hình thái Mocganhien (Morgagnienne).
- Nhận trưởng thành thoái hóa, thành chất nước trắng như sữa, nhân bào thai đặc rắn, màu vàng, nằm ở phía dưới. Khi bệnh nhân thay đổi tư thế đầu trong hình thái màng, nhân trưởng thành và nhân bào thai tiêu hủy dần, cuối cùng thành một màng trắng đục.
3. Biến chứng:
- Căng phồng to tăng thể tích của thể thủy tinh, có thể gây bệnh cảnh Glocom cấp do nghẽn đồng tử.
------------------------------------------------
Câu 18: Định nghĩa thị lực, tật khúc xạ cận thị và viễn thị.
* Thị lực: là khả năng của mắt nhận thức rõ các cho tiết hay nói một cách khác chính xác hơn, thị lực là khả năng của mắt nhận thức riêng biệt hai điểm gần nhau. Thị lực bao gồm có:
- Thị lực nhìn xa: Là những chức thử được đọc ở cách 5m.
- Thị lực nhìn gần: Đó là một bài đọc có kích thước các chữ nhỏ dần được để ở cách mặt bệnh nhân 30cm.
* Tật khúc xạ bao gồm: Loạn thị, viễn thị, cận thị và lão thị.
1. Mắt cận thị:
Mắt cận thị có khúc xạ quá lớn so với độ dài của mắt: ảnh của một điểm ở vô cực hiện ở trước võng mạc (viễn điểm nằm trong một khoảng có hạn của nhãn cầu): nhìn xa mờ. Cận điểm gần mắt hơn bình thường: nhìn gẫn vẫn rõ.
Mắt hội tụ quá mức, giống như một con mắt quá dài, phân biệt ra:
- Cận thị trục, do trục trước- sau của nhãn cầu dài ra.
- Cận thị chỉ số, do giảm bán kính mặt cong của giác mạc và tăng chiết quang của thể thủy tinh.
+ Dấu hiệu cơ năng:
. Mắt mờ khi nhìn xa, không hiệu chỉnh được bằng điều tiết.
. Mắt nhìn gần rõ nét.
+ Triệu chứng:
. Kính cầu lõm, biểu thị bằng số đi-ôp âm.
. Kính tiếp xúc.
. Phẫu thuật khúc xạ: rạch giác mạc hình nan. Phẫu thuật điều chỉnh thuật khúc xạ bằng lasex Excimer.
+ Biến chứng:
. Tổn thương chu biên võng mạc ( thoái hóa hàng rào, dạng phấn, vết rách), nguy cơ bong võng mạc.
. Tổn thương giác mạc và giãn lồi cầu do cận thị. Mắt cận nặng (di truyền, khởi phát sớm).
. Vết xuất huyết Fuchs.
. Thoái hóa hoàng điểm.
. Lác phân kỳ ở trẻ em (lão thị xuất hiện muộn).
2. Mắt viễn thị:
Mắt viễn thị có trục nhãn cầu quá ngắn hoặc có khúc xạ yếu hơn so với độ dài của mắt: ảnh của một điểm ở vô cực hiện ở sau võng mạc: nhìn xa mờ, viễn điểm nằm ở sau võng mạc: nhìn gần mờ.
Mắt hội tụ không đủ mức, giống như một mắt quá ngắn. Phân biệt ra:
- Viễn thị trục, do trục trước- sau của nhãn cầu ngắn lại.
- Viễn thị chỉ số, do tăng bán kính mặt cong của giác mạc và giảm chiết quang của thể thủy tinh.
- Dấu hiệu cơ năng:
+ Mắt mờ khi nhìn xa.
+ Mắt mờ khi nhìn gần.
Mờ này được hiệu chỉnh bằng điều tiết và bệnh nhân nhìn được 10/10, nhưng mỏi mắt vì phải cố gắng để đưa hình ảnh về võng mạc (gây khó chịu, kích thích mi, chảy nước mắt, sợ sáng, viêm kết mạc dai dẳng và tái diễn).
- Điều chỉnh: Nhìn tốt hơn trên nền mầu lục.
+ Kính cầu lồi: biểu thị bằng số đi-ôp dương.
+ Kính tiếp xúc.
+Phẫu thuật khúc xạ: cho những mắt viễn thị nặng (ghép lạng giác mạc, ghép bồi giác mạc).
- Biến chứng:
+ Glocom góc đóng (ở người già).
+ Lác quy tụ ở trẻ em (lão thị xuất hiện sớm hơn).
-----------------------------------------------
Câu 19: Trình bày thị lực nhìn xa, thị lực nhìn gần, các yếu tố ảnh hưởng đến thị lực.
* Thị lực: là khả năng của mắt nhận thức rõ các cho tiết hay nói một cách khác chính xác hơn, thị lực là khả năng của mắt nhận thức riêng biệt hai điểm gần nhau. Thị lực bao gồm có:
1. Thị lực nhìn xa: Là những chức thử được đọc ở cách 5m.
- Thị lực nhìn xa bình thường là 10/10. Nếu thị lực dưới 10/10 thì ghi kết quả theo dòng chữ cuối cùng đọc được. Nếu thị lực dưới 1/10 thì để bệnh nhân lại gần bảng thử:
+ Cách 2,5m: Thị lực là 1/20 nếu đọc được dòng 1/10.
+ Cách 1m: Thị lực là 1/50 nếu đọc được dòng 1/10.
Nếu bệnh nhân không đọc được thì cho đếm ngón tay:
+ Nếu đếm ngón tay cách 1m, thị lực là 1/50.
+Nếu đếm được ngón tay cách 50cm, thị lực là 1/100.
Nếu bệnh nhân không đếm được ngón tay thì ta thử khua bàn tay ở trước mắt, trong khu vực thị trường trung tâm (nhận thức được thị lực là 1/200), trên lâm sàng còn gọi là “thấy bóng bàn tay”. Nếu không thấy bóng bàn tay thì đánh giá sự nhận biết ánh sáng (nhận thức sáng- tối) và nhận biết vị trí nguồn sáng (hướng ánh sáng).
Khi không còn nhận biết được ánh sáng thì gọi là thị lực bằng 0.
Cần chú ý rằng thị lực phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
+ Độ sáng của nền.
+ Độ sáng chung của gian phòng.
+ Tương phản của chữ thử.
+ Đường kính đồng tử.
2. Thị lực nhìn gần:
Đó là một bài đọc có kích thước các chữ nhỏ dần được để ở cách mặt bệnh nhân 30cm.
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thị lực:
3.1 Ánh sáng:
Cần chiếu sáng bảng thị lực ít nhất 50 lux (quy định quốc tế là 100lux). Nếu tăng cường bảng chiếu sáng thị lực lên từ 20lux đến 360lux thì thị lực không thay đổi.
Ví dụ một bảng thị lực có cường độ chiếu sáng bảng thị lực lên gấp đôi, 60lux chẳng hạn, thì thị lực không tăng mà vẫn 10/10. Nhưng nếu bảng thị lực tăng lên trên 400lux, thị lực có tăng lên, nhưng rồi lại tụt nhanh vì chói mắt.
Dưới 10lux thì thị lực tụt nhanh từ 1 đến 0.
3.2 Sự mệt mỏi:
Sự mệt mỏi toàn thân và sự mệt mỏi riêng của mắt làm thị lực tụt rất nhanh. Điều này thấy rõ trong hiện tượng Troxlex khi làm thị trường.
3.3 Nhìn bằng 2 mắt:
Khi nhìn bằng 2 mắt, có sự hỗ trợ nhau, làm tăng thị lực lên một ít.
3.4 Bại liệt điều tiết:
Thị lực giảm nếu bại liệt điều tiết hoàn toàn, bại liệt điều tiết thường đi đôi với giãn đồng tử, vậy trường hợp đó muốn thử thị lực phải cho nhìn qua kính lỗ.
3.5 Màu sắc
Màu tối làm giảm thị lực: đỏ, xanh đậm.
3.6 Bệnh của mắt:
Cuối cùng, có một số bệnh làm giảm thị lực, ngoài yếu tố quang học: các bệnh làm đục các môi trường chiết quang của mắt, sang chấn, lác...
-------------------------------------------
Câu 20: Trình bày tật khúc xạ loạn thị và lão thị.
Các tia sáng song song từ vô cực đến mắt, sau khi qua các môi trường trong suốt, sẽ hội tụ lại ở tiêu điểm sau F’. Nếu tiêu điểm sau F’ trùng với võng mạc, thì là mắt chĩnh thị; nếu tiêu điểm sau F’ không trùng với võng mạc, ở trước hoặc sau võng mạc, thì mắt được coi là không chính thị, nghĩa là có tật khúc xạ. Tật khúc xạ bao gồm: Loạn thị, viễn thị, cận thị và lão thị.
a.Loạn thị:
Mắt loạn thị có bán kính độ con giác mạc ở mọi kinh tuyến không giống nhau, nên khúc xạ của mắt theo mọi kinh tuyến cũng khác nhau.
Loạn thị có thể do nguyên nhân bẩm sinh, hoặc biến chứng của chấn thương giác mạc, của viêm loét giác mạc và quặm.
Người ta phân biệt 2 loại loạn thị chính:
- Loạn thị không đều: giác mạc không phẳng, bề mặt giác mạc sần sùi thường hay gặp trong trường hợp sẹo giác mạc.
Trong loạn thị không đều, giác mạc có 2 kinh tuyến chính, 2 kinh tuyến chính bao giờ cũng thẳng góc với nhau. Một kinh tuyến chính có công suất khúc xạ lớn nhất, kinh tuyến chính còn lại là kinh tuyến khúc xạ nhỏ nhất, giữa 2 kinh tuyến chính là những kinh tuyến có công suất khúc xạ tăng hay giảm dần.
- Loạn thị đều: gồm 3 loại: Loạn thị theo quy tắc, loạn thị không theo quy tắc và loạn thị chéo.
+ Trong loạn thị theo quy tắc, kinh tuyến dọc là kinh tuyến chính, có công suất khúc xạ lớn nhất, còn kinh tuyến ngang là kinh tuyến chính có công suất khúc xạ nhỏ nhất.
+ Trong loạn thị không theo quy tắc, kinh tuyến ngang là kinh tuyến chính có công suất khúc xạ lớn nhất, còn kinh tuyến dọc là kinh tuyến có công suất khúc xạ nhỏ nhất.
+ Trong loạn thị chéo, hai kinh tuyến không phải là những kinh tuyến ngang và dọc.
Loạn thị là một khuyết tật mặt cầu, chủ yếu là của giác mạc: Hình ảnh của một điểm không còn là một điểm, mà là 2 đường thẳng vuông góc gọi là 2 đường tiêu. Mắt loạn thị nhìn mờ ở mọi cự ly gây ra mỏi mắt, khó chịu khi nhìn ngoài sáng và nhầm lẫn một số chữ. Tùy theo vị trí của các đường tiêu đối với võng mạc mà phân biệt ra:
- Loạn cận thị: 2 đường tiêu ở trước võng mạc.
- Loạn viễn thị: 2 đường tiêu ở sau võng mạc.
- Loạn thị hỗn hợp: 1 đường tiêu ở trước và 1 đường tiêu ở sau võng mạc.
Điều chỉnh loạn thị bằng kính trụ, công suất kính được biểu đạt bằng đi-ôp dương hoặc đi-ôp âm. Chỉ tiêu chỉnh loạn thị khi nó lớn hơn 0,75 đi-ôp (dưới mức này là loạn thị sinh lý), thường không nên điều chỉnh hoàn toàn loạn thị.
b.Lão thị:
Sự giảm điều tiết theo tuổi do nhân thể thủy tinh to ra, do cơ thể mi yếu đi, không thể làm cho các dây zinn chùng lại được, và do giảm tính đàn hồi của bao thể thủy tinh.
Khoảng 45 tuổi, mắt nhìn gần bình thương trở nên khó khăn và tình trạng này tăng dần chô đến 60 tuổi, ở tuổi này, hiệu số khúc xạ giữa nhìn xa (viễn điểm không thay đổi) và nhìn gần (cận điểm ra xa) trung bình là 3,5 đi-ôp.
Điều chỉnh nhìn gần bằng kính hội tụ, mặt lồi. Kính có thể 1 tiêu cự, 2 tiêu cự hoặc nhiều tiêu cự (progressef). Ở mắt viễn thị, lão thị đến sớm hơn, ở mắt cận thị thì muộn hơn, vì thế người cận thị khi đọc sách thường bỏ kính nhìn ra xa.