Những thay đổi sinh lý và bệnh lý ở người cao tuổi.
1.Sự thay đổi của hệ miễn dịch
Chức năng tế bào lympho T suy giảm do đó làm giảm hệ miễn dịch trung gian tế bào.Số lượng tế bào lympho T không suy giảm nhưng khả năng sản xuất kháng thể của tế bào này giảm, kháng thể chúng sinh ra có ái lực với các kháng nguyên đặc hiệu kém hơn, đặc biệt là khả năng kích thích kháng thể tự nhiên (IgA) giảm.
Tự kháng thể tăng gây ra các bệnh tự miễn ở người cao tuổi.
2.Những thay đổi về hệ nội tiết.
a.Giảm chức năng buồng trứng:
các phụ nữ ngoài 50 tuổi các nang của buồng trứng không đáp ứng với các kích thích cảu hoocmon tuyến yên nên giảm chức năng của buồng trứng. buồng trứng không còn khả năng phóng noãn, nông độ hoocmon sinh dục nữ giảm đến mức bằng không. Khi đó phụ nữ không có kinh nguyệt, da niêm mạc mỏng, loãng xương, vữa xơ động mạch do giảm estrogen.
b.Giảm chức năng tinh hoàn:
Từ khi dậy thì hoocmon nam của tuyến yên đc bài tiết suốt cuộc đời còn lại. Vì vậy ở nam ko xuất hiện suy giảm hoàn toàn chức năng sinh dục, nhưng tuổi càng cao chức năng của tinh hoàn cũng suy giảm, nhưng tốc độ suy giảm chậm.
c.Rối loạn chức năng tuyến giáp.
Tuyến giáp ở người già giảm thể tích và trở nên xơ cứng. chức năng của tuyến giáp bị rồi loạn sẽ gây: phù niêm, rụng tóc, xa xút trí tuệ rối loạn nhịp tim, lo âu…
d. Rối loạn chức năng tuyến tụy nội tiết.
Tăng trọng lượng nhiều dẫn đến không dung nạp đc cacbonhydrate, lượng insulin tăng cao hơn mất tính nhạy cảm với insulin ở các mô mỡ và cơ.
3.Sự thay đổi của hệ thần kinh.
Trọng lượng và thể tích não giảm dần theo sự tăng lên của tuổi tác.
Một số vùng của não bị mất tế bào như: hồi não thái dương, thùy đỉnh, thùy chẩm. Số lượng tế bào bị mất ở các vùng não không giống nhau. Các noron quan trọng càng dễ bị mất nhiều: các tế bào mạng purkinje, vùng dưới vỏ, liềm xanh, liềm đen. Các vùng khác thì ít bị mất tế bào hơn. Việc mất tế bào ở một số vùng não làm giảm khả năng nhận thức ở người cao tuổi, giảm vận động, liệt nhẹ hoặc liệt hoàn toàn.
Hiện tượng thay đổi hình thái cấu trúc của tế bào não. Hiện tượng thoái hóa vỏ myelin vỏ sợi trục cùng với sự thay đổi chất dẫn truyền thần kinh. Tất cả những yếu tố trên làm giảm dẫn truyền thần kinh qua sợi trục, dẫn truyền thần kinh qua synap giảm theo tuổi, thời gian đáp ứng với các kích thích chậm. Lâm sàng thường thấy người già giảm thính giác, thị giác, rối loạn cảm giác xúc giác, vị giác, cảm giác đau. Mất cảm giác nên hoạt động chậm chạp.
4.Sự thay đổi của hệ tim mạch.
-Lưu lượng tim: Ở người già chỉ số hoạt động tim mạch cơ bản thay đổi.
Khả năng co bóp của tim giảm do xơ hóa cơ tim tăng dần, phì đại cơ tim, loạn dương protein- lipid cơ tim, cơ chế điều hòa Franc-starling suy giảm theo tuổi.
Nhịp co bóp của tim chậm lại do giảm tính tự động của nút xoang, các ảnh hưởng giao cảm ngoài tim suy giảm.
Những điều đó làm giảm cung lượng tim.
-Van tim: lão hóa làm van tim trở nên mỏng hơn, vôi hóa van tim gây hẹp động mạch chủ hoặc van hai lá. Thoái hóa nhầy van tim tăng nguy cơ viêm nội tâm mạc bán cấp nhiễm khuẩn.
-Điều hòa hoạt động của tim: người già sự đáp ứng cơ chế thần kinh và cơ chế thể dịch giảm.
-Tuần hoàn ngoại biên: xơ vữa động mạch làm giảm biên độ đàn hổi của mạch máu, mạch máu trở nên sơ cứng, giảm bán kính động mạch ngoại biên. Làm tăng sức cản ngoại biên, giảm cung cấp máu.
-Vi tuần hoàn: các mạch máu bị sơ hóa hoặc thoái hóa do loạn dưỡng, giảm lượng mao mạch còn chức năng, tính thẩm thấu của mao mạch giảm.
Tất cả những biến đổi đó dẫn đến các bệnh: mạch vành, tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim.
5.Sự biến đổi của hệ hô hấp.
Phổi có su hướng phát triển các mô xơ nhu mô phổi dày nên kém đàn hồi nên ở người già dung tích phổi giảm. mô liên kết phát triển làm cho vách trao đổi dày hơn trong khi đó mao mạch quanh phế nang giảm gây mất cân bằng trao đổi khí- máu, phân áp oxy trong động mạch giảm trong diều kiện hô hấp bình thường.
Việc thoái hóa khớp làm mất tính đàn hồi của các sụn sườn giảm khả năng di động của khớp sụn sườn, sự thu teo các sợi cơ đặc biệt là cơ gian sườn cơ hoành, sự tăng tổ chức sơ và sự lắng đọng mỡ ở các sợi cơ làm lồng ngực người già thu hẹp giảm di động lồng ngực, nên giảm dung tích khí thở ra. Dung tích kín tối đa giảm nên giảm lực ho.
Có hiện tượng teo lớp mạng nhầy ở các cơ quan, làm giảm tổng hợp giảm IgA bài tiết ở mũi và các màng nhầy ở hệ hô hấp nên làm tăng khả năng nhiễm khuẩn ở động tác hít vào.
Giảm phản xạ bảo vệ thanh quản.
6.Sự thay đổi của hệ cơ- xương- khớp.
a.Cơ:
Khối cơ nạc cơ thể giảm theo tuổi. Ở tất cả các cơ số lượng và kích thước sợi tơ cơ giảm.
Trường lực cơ và co lực giảm do sự lắng đọng lipofucsin ở các tế vào cơ do cơ bị teo và mất thần kinh.
Thành phần nước trong gân và dây chằng giảm ở người cao tuổi làm cho gân trở nên cứng hơn.
b.Xương.
Hàm lượng chất khoáng trong xương đạt đỉnh ở tuổi 25, sau đó bắt đầu giảm dần. tỉ khối xương giảm 0,2-2%/ năm, tùy từng người.
Người già có hiện tượng mất một số lớn tổ chức xương, làm độ đặc xương giảm, xương xốp dễ gãy. Nguyên nhân chủ yếu của loãng xương là do hiện tượng giảm lượng estrogen trong máu ở phụ nữ mãn kinh: giảm hấp thu chất khoáng đặc biệt là Ca ở người già giảm hấp thu ở hệ tiêu hóa.
c.Khớp
ở người già các tế bào sụn trở nên già giảm khả năng tổng hợp collagen và chất căn bản qua đó làm giảm tính đàn hồi, giảm khả năng chịu lực của đĩa đệm và sụn khớp, nên gây tình trạng thoái hóa khớp.
7.Sự hay đổi của hệ tiêu hóa.
a.Gan: ở người cao tuổi cấu trúc gan thay đổi giảm khối lượng, nhu mô có những chỗ teo, mô liên kết dày lên, mật độ gan chắc lên. Cùng với đó là hiện tượng thoái hóa mỡ ở gan: trữ lượng Protid, kali mức tiêu thụ oxy ở gan giảm. chức năng gan giảm đặc biệt là chuyển hóa Protein, giải độc và tái tạo tế bào gan.
b.Túi mật và đường dẫn mật: từ tuổi 40 có sự giảm đàn hồi của túi mật và thành ống mật, cơ túi mật bắt đầu teo thể tích túi mật giảm. Xơ hóa vòng cơ Oddi nên dễ gây rối loạn điều hòa dẫn mật.
c.Tụy: các nang tuyến tụy teo dần, nhu mô bị xơ hóa khối lượng của tụy giảm.
d.Giảm dịch tiết tiêu hóa:
+ Nước bọt: ở người già có sự giảm nhẹ tế bào hình hạt nho của tuyến nước bọt. vì vậy có sự giảm nhẹ sản xuất nước bọt ở tuyến mang tai. Các tuyến nước bọt phụ không thay đổi.
+Dịch vị: dịch tụy ngoại tiết giảm theo tuổi dẫn tới giảm lượng dịch tụy bài tiết vào ruột non. Đồng thời hoạt tính của Amylaza, lipaza, stripsin giảm. từ 60 tuổi hoạt tính men tiêu hóa do tụy bài tiết giam từ 2-2,5 so với trẻ.
+Dịch mật: người già thành phần của mật do gan bài tiết có sự thay đổi nên dễ có khả năng tạo sỏi.
e.Thực quản:
phì đại cơ vân ở 1/3 trên, dày lớp cơ trơn dọc theo chiều dài thực quản ở 2/3 dưới, giảm số lượng tế bào hạch mạc treo chi phối nhu động thực quản, biên độ nhu động của thực quản giảm. Teo lớp màng nhầy ở ống tiêu hóa dẫn đến giảm độ căng biểu mô che phủ, giảm diện tích tiếp xúc với màng nhầy với các chất bên trong ruột, qua đó giảm hấp thu tại ống tiêu hóa, đặc biệt là ở ruột non. Giảm trương lực và nhu động của đại tràng cùng với giảm cơ lực và trương lực cơ thành bụng, cơ vùng chậu hông, giảm hoạt động thể chất giảm nhạy cảm với kích thích thần kinh dẫn đến hay táo bón ở người già.
8.Sự thay đổi hệ sinh dục tiết niệu
a.Sinh dục:
+Ở nữ: cơ quan sinh dục như tử cung, cổ tử cung teo nhỏ. Teo bộ phận sinh dục ngoài. Thành âm đạo mỏng hẹp, ngắn, kém đàn hồi, giảm tiết dịch, lượng acid âm đạo giảm nên dễ nhiễm khuẩn.
+Nam giới: phì đại tuyến tiền liệt, có thể dẫn đến u xơ tuyến tuyền liệt, K tuyến tiền liệt.
b.Tiết niệu:
+Thận: hiện tượng lão hóa thận xảy ra trong suốt đời sống cá thể. Từ 20 tuổi bắt đầu có những biến đổi ở các động mạch nhỏ và trung bình ở thận. từ 30 tuổi có sự co rút của lưới động mạch nhỏ ở cầu thận làm biến dạng một số cầu thận và làm teo các ống thận có liên quan. Độ dày màng đáy của các tiểu cầu thận tăng, diện tích lọc giảm. 70 -80 tuổi số lượng tiểu cầu thận còn hoạt động giảm khoảng 1/3 hoặc 1/2 so với lúc mới sinh. Những tiểu cầu thận mất đi được thay thế bằng mô liên kết, đó là hiện tượng xơ hóa thận tuổi già. Thay đổi về chức năng: mực lọc tiểu cầu thận giảm. lưu lượng máu qua thận giảm do tăng sức cản của các mạch máu tại thận. Hệ số thanh thải ure giảm theo tuổi. Độ thanh thai creatinin giảm nhưng creatinin huyết thanh không tăng lên do giảm khối cơ nạc của cơ thể khi già. Khả năng điều chỉnh pH chậm.
+Niệu quản: dày lên độ đàn hồi giảm theo tuổi. giảm tính nhạy cảm của niệu quản với các ảnh hưởng của thần kinh dẫn tới giảm sự tương quan giữa cơ thắt và đẩy ra của niệu quản, gây rối loạn bài tiết nước tiểu từ các đường niệu quản trên.
+Bàng quang: giảm độ đàn hồi giảm sức chứa, giảm khả năng co bóp của cơ thắt trong và ngoài bàng quang, có thể có rối loạn tiểu tiện ở người cao tuổi.
9.Sự biến đổi của các bộ phận khác:
+Da: thay đổi về màu sắc và sự giảm sút về số lượng tế bào biểu bì hắc tố, da khô. Càng lớn tuổi số lượng tế bào này càng giảm. tuổi càng cao thì lớp hạ bì càng mỏng. Đây là một trong những nguyên nhân gây thiếu máu cục bộ ở da và loét do tỳ đè. Sự thay đổi về độ dày tăng theo tuổi, 30-40 tuổi bắt đầu có nếp nhăn. Các nếp nhăn ngày càng hằn sâu theo tuổi. Độ đàn hồi của da cũng giảm.
+Móng tay mong chân ngày càng mỏng và dễ gãy.