Phần tóm tắt hay đầu bài đăng
Ng. nhân VIÊM TẮC ĐỘNG MẠCH
Bệnh thuộc chứng thoát cốt thư, thoát ung, thoát cốt đinh, đôn ung, chú tiết đinh, thập chỉ linh lạc, tháp giả độc đàng.
NGUYÊN NHÂN CƠ CHẾ BỆNH SINH
+ Hàn thấp: hàn hợp với thủy xâm lấn vào, sống lâu ngày ở vùng ẩm thấp làm tổn thương dương khí khiến hàn tà xâm nhập vào các đường kinh, vào mạch lạc tạo thành hàn ngưng khí trở gây nên đau. Khí trệ, huyết ngưng nên ko nuôi dưỡng đc phần ngọn chi mà sinh ra chứng đau buôt, xanh- tím- đen rồi hoại tử và rụng. đó là bệnh.
+ Do ăn uống: ăn nh cao lương mỹ vị hoặc chất cay nóng, ăn đồ nướng nhiều khến tỳ vị ko hóa đc thấp nên sinh đàm, đàm tích nh sinh hỏa, rồi dồn xuống dưới lưu trệ ở cân mạch gây bệnh. Mặt khác nhiệt tích thiêu đốt tân dịch , đặc biệt là đối với tạng thận, thận thuộc về âm huyết, huyết bị bại thì tâm cũng bị bại, dẫn đến tỳ cũng bị tổn thương.
+ Can thận bất túc: Cơ thể vốn đã suy yếu, do sinh hoạt tình dục ko điều độ or lao đông nặng nhọc quá sức khiến cho can và thận bị tổn thương. Thận thì có chức năng tàng tinh, là ‘tác cường chi cung’, nơi hội của xương. Can chủ sơ tiết, chủ tông cân, lợi cơ khớp. Lao động nặng nhọc làm hại tới can và thận, khi can thận bị tổn thương thì tinh huyết cũng bị suy tổn, gân xương ko đc nuôi dưỡng. Hoặc do tình dục quá độ, ăn uống nhiều chất bổ dưỡng làm tổn hại đến phần âm trong cơ thể hoặc dâm hảo bốc lên cũng ảnh hưởng đến tạng phủ, làm tiêu hao phần âm dẫn đến can bị liễm, độc tà tích tụ ở đầu chi gây nên bệnh.
+ do tình chí: tình chí thất thường làm hại tới can và tỳ từ đó ngũ tạng ko được điều hòa, cơ năng tạng phủ bị rối loạn, truyền dẫn vào kinh lạc khiến cho khí huyết ko điều hòa do đó ko nuôi dưỡng đc ngọn chi gây nên bệnh.
+ Do thể chất suy yếu: cơ thể suy yếu sinh ra chứng thoát thư, thận tinh bất túc hoặc bệnh lâu ngày làm cho cơ thể suy yếu, khí huyết hư tổn, thể chất yếu dần, vận hành bất lực, do đó ngọn chi ko được nuôi dưỡng, dễ nhiễm hàn tà mà gây bệnh.
VIÊM TẮC ĐỘNG MẠCH - HÀN THẤP XÂM NHẬP
- Tr/c: sắc mặt xanh, thích ấm, sợ lạnh, ngọn chi tê lạnh, đau; da trắng nhợt, khô. Người mệt mỏi, thường bị chuột rút, đau cách hồi, nước tiểu trong dài, đại tiện lỏng, lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch trầm trì, vô lực.
- Pháp: ôn kinh tán hàn, hoạt huyết, thông ứ
- Phương: dùng bài Hòa dương thang gia giảm: Ma hoàng, bào khương, giáp châu, địa long mỗi vị 6g. thục địa, nhẫn đông đằng mỗi vị 45g. đan sâm, huyết đằng mỗi vị 15g. hoàng kỳ, đẳng sâm, ngưu tất, cam thảo mỗi vị 10g.
- Châm cứu: Dương lăng tuyền, tam âm giao, túc tam lý, hạ cự hư, thượng cự hư, thái uyên.
- Thuốc dùng ngoài: Sinh khương 120g, cam thảo 60g, sắc lấy nước ngâm rửa ngày 2 lần, mỗi lần ngâm 20p.
THỂ KHÍ HUYẾT ĐỀU HƯ
- Tr/c: Tổn thương lở loét lâu ngày ko khỏi, chảy dịch mủ, mu chân lộ xương, sắc mặt sạm, da khô, cơ nhục teo nhẽo ko có lực, tinh thần mệt mỏi, đoản hơi, tự ra mồ hôi, cơ thể tiều tụy, hồi hộp, mất ngủ, lưỡi đỏ nhạt, rêu trắng nhạt, mạch trầm tế vô lực.
- Pháp: bổ ích khí huyết, điều hòa vinh vệ.
- Phương: Bát chân thang gia giảm: Đương quy, bạch thược, xuyên khung, đẳng sâm, cam thảo mỗi vị 10g. Thục địa, đan sâm, hoàng kỳ mỗi vị 15g. Bối mẫu, địa đinh, bồ công anh mỗi vị 12g. xích tiểu đậu 30g.
- Thuốc dùng ngoài: Sinh khương 120g, cam thảo 60g, sắc lấy nước ngâm rửa ngày 2 lần, mỗi lần ngâm 20p.
KHÍ TRỆ HUYẾT Ứ
- Tr/c: sắc mặt vàng bủng, ngọn chi đau nhức liên mien, đêm đau nh hơn, có màu hồng tía, đau, lạnh. Móng dày khô. Ngoài nơi tổn thương da trắng bệch, ra mồ hôi. Chất lưỡi đỏ có điểm ứ huyết, mạch trầm tế or trầm nhược.
- Pháp: hoạt huyết hóa ứ, lý khí chỉ thống.
- Phương: Đào nhân tứ vật thang gia giảm: đương quy 30g. thục địa, xích thược, bạch thược, ngưu tất, thanh bì mỗi vị 10g. đan sâm, nhũ hương, 1 dược, diêm hồ sách, bồ công anh, ngân hoa mỗi vị 12g. huyết đằng, ngũ gia bì mỗi vị 15g.
- Châm cứu: Liệt khuyết, xích trạch, cách du, thượng cự hư, hạ cự hư.
- Thuốc dùng ngoài: Sinh khương 120g, cam thảo 60g, sắc lấy nước ngâm rửa ngày 2 lần, mỗi lần ngâm 20p.
Đọc thêm!
VIÊM DA DỊ ỨNG
Phần tóm tắt hay đầu bài đăng
TRIỆU CHỨNG
- Tổn thương cơ bản là những nốt sần tập hợp lại thành đám, thường khu trú lại ở mặt ngoài chi, 2 bên cổ gáy và có tính chất đối xứng. Thời kỳ đầu nốt sần nhỏ, thưa nhưng do ngứa và gãi nhiều nên đám sần lan rộng, nốt sần dày hơn. Thường ngứa nhiều về đên, ngứa từng cơn dữ dội. Vùng da ngứa bị gãi nhiều nên chuyển màu đỏ sẫm, hơi nhăn, hơi cộm, rồi nổi những nốt sần dẹt và bóng, sau đó hình thành đám bầu dục, đám đa giác hoặc thành vệt dài. Thời kỳ này da có màu nâu nhạt, khô cứng, bề mặt bóng.
- Nếu bội nhiễm kết hợp sẽ có viêm nang lông, lở loét. Hình thành tổn thương da rất đa dạng: đơn lẻ, đối xứng, khu trú hoặc nhiều nơi
- Bệnh tiến triển hàng năm, hàng tháng, dễ tái phát, lâu ngày da dày cộm, sẫn màu, lằn cổ trâu rõ rệt.
- Khi khỏi hường để lại mảng sẫn màu hoặc trắng như bạch biến.
Dựa theo giai đoạn bệnh mới mắc hoặc lâu ngày mà chia thành 2 thể lâm sàng, từ đó mà có phương pháp điều trị khác nhau
a. THỂ PHONG NHIỆT
- Tr/c: da bị tổn thương nhẹ, chưa dày cộm, màu hơi hồng, ngứa nhiều.
- Pháp: Khu phong thanh nhiệt
- Phương: Dùng bài tiêu phong tán gia giảm: kinh giới, sinh địa, phòng phong, ngưu bàng tử, đương quy, tri mẫu, địa phu tử mỗi thứ 12g. thuyền thoái 6g. sắc uống ngày 1 thang.
Hoặc dùng bài Sơ phong thanh nhiệt ẩm gia giảm: kinh giới, sinh địa mỗi thứ 16g, phòng phong, kim ngân, cúc hoa, tạo giác thích, khổ sâm mỗi thứ 12g. thuyền thoái 6g. sắc uống ngày 1 thang.
b. THỂ HUYẾT TÁO
- Tr/c: da dày khô, ngứa nhiều, gãi nh làm xước da và chảy dịch, có khi dớm máu
- Pháp: dưỡng huyết, nhuận táo, khu phong
- Phương: Dùng bài địa hoàng ẩm tử gia giảm: hà thủ ô, sinh địa mỗi thứ 16g. đương quy. Huyền sâm, kinh giới bạch tật lê mỗi thứ 12g. cương tằm 8g. toàn yết 6g. sắc uống ngày 1 thang.
Cả 2 thể:
- Thuốc dùng ngoài: phèn phi 5g, khinh phấn 5g, lưu huỳnh 25g tán mịn tất cả cho vào 200ml cồn 70 độ để 5 ngày sau đó lắc đều rồi bôi 3 lần/ ngày.
- Châm cứu:
+ Châm xung quanh vùng da bị bệnh ngày 1 lần, kết hợp với xông khói thương truật, và thiên niên kiện (hàm lượng = nhau) trong 20 phút.
+ Huyệt chính: ủy trung, phong môn. Bệnh ở tay châm thêm Khúc trì, bệnh ở mặt thêm hợp cốc, nghinh hương, nếu bệnh ở chân thêm phong trì, tam âm giao, huyết hải. Nếu bệnh ở bụng, ở ngực thêm túc tam lý, dương lăng tuyền.
Đọc thêm!
TRIỆU CHỨNG
- Tổn thương cơ bản là những nốt sần tập hợp lại thành đám, thường khu trú lại ở mặt ngoài chi, 2 bên cổ gáy và có tính chất đối xứng. Thời kỳ đầu nốt sần nhỏ, thưa nhưng do ngứa và gãi nhiều nên đám sần lan rộng, nốt sần dày hơn. Thường ngứa nhiều về đên, ngứa từng cơn dữ dội. Vùng da ngứa bị gãi nhiều nên chuyển màu đỏ sẫm, hơi nhăn, hơi cộm, rồi nổi những nốt sần dẹt và bóng, sau đó hình thành đám bầu dục, đám đa giác hoặc thành vệt dài. Thời kỳ này da có màu nâu nhạt, khô cứng, bề mặt bóng.
- Nếu bội nhiễm kết hợp sẽ có viêm nang lông, lở loét. Hình thành tổn thương da rất đa dạng: đơn lẻ, đối xứng, khu trú hoặc nhiều nơi
- Bệnh tiến triển hàng năm, hàng tháng, dễ tái phát, lâu ngày da dày cộm, sẫn màu, lằn cổ trâu rõ rệt.
- Khi khỏi hường để lại mảng sẫn màu hoặc trắng như bạch biến.
Dựa theo giai đoạn bệnh mới mắc hoặc lâu ngày mà chia thành 2 thể lâm sàng, từ đó mà có phương pháp điều trị khác nhau
a. THỂ PHONG NHIỆT
- Tr/c: da bị tổn thương nhẹ, chưa dày cộm, màu hơi hồng, ngứa nhiều.
- Pháp: Khu phong thanh nhiệt
- Phương: Dùng bài tiêu phong tán gia giảm: kinh giới, sinh địa, phòng phong, ngưu bàng tử, đương quy, tri mẫu, địa phu tử mỗi thứ 12g. thuyền thoái 6g. sắc uống ngày 1 thang.
Hoặc dùng bài Sơ phong thanh nhiệt ẩm gia giảm: kinh giới, sinh địa mỗi thứ 16g, phòng phong, kim ngân, cúc hoa, tạo giác thích, khổ sâm mỗi thứ 12g. thuyền thoái 6g. sắc uống ngày 1 thang.
b. THỂ HUYẾT TÁO
- Tr/c: da dày khô, ngứa nhiều, gãi nh làm xước da và chảy dịch, có khi dớm máu
- Pháp: dưỡng huyết, nhuận táo, khu phong
- Phương: Dùng bài địa hoàng ẩm tử gia giảm: hà thủ ô, sinh địa mỗi thứ 16g. đương quy. Huyền sâm, kinh giới bạch tật lê mỗi thứ 12g. cương tằm 8g. toàn yết 6g. sắc uống ngày 1 thang.
Cả 2 thể:
- Thuốc dùng ngoài: phèn phi 5g, khinh phấn 5g, lưu huỳnh 25g tán mịn tất cả cho vào 200ml cồn 70 độ để 5 ngày sau đó lắc đều rồi bôi 3 lần/ ngày.
- Châm cứu:
+ Châm xung quanh vùng da bị bệnh ngày 1 lần, kết hợp với xông khói thương truật, và thiên niên kiện (hàm lượng = nhau) trong 20 phút.
+ Huyệt chính: ủy trung, phong môn. Bệnh ở tay châm thêm Khúc trì, bệnh ở mặt thêm hợp cốc, nghinh hương, nếu bệnh ở chân thêm phong trì, tam âm giao, huyết hải. Nếu bệnh ở bụng, ở ngực thêm túc tam lý, dương lăng tuyền.
Đọc thêm!
Vẩy nến
Phần tóm tắt hay đầu bài đăng
VẨY NẾN - Thể huyết hư Phong Táo
*TC:
- Các tổn thương thành đám, mảng, sẩn cộm, thường có màu hồng đỏ hoặc tím nhợt, có thể có sắc hồng xám thâm.
- Thời kỳ này ngứa giảm, hầu như không ngứa, tổn thương da thu nhỏ hơn, có chỗ tự tiêu đi hoàn toàn chỉ còn lại mặt da trắng bạc phẳng.
- Ăn uống, đại tiện thời kỳ này hầu như bình thường.
- Chất lưỡi hồng nhợt, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch đới huyền hoặc huyền mà tế.
*Pháp: Dưỡng huyết, nhuận táo, khu phong.
*Phương: Bài thuốc thường dùng: Đương quy 12, Đan bì 12, Hà thủ ô đỏ 16, Sinh địa 16, Bạch tật lê đều 12, Ô tiêu xà 16, Phòng phong 12, Thuyền thoái 8.
*Thuốc bôi ngoài:
- Đại phong từ nhân: Ma nhân 16, Mộc triết tử 12, Long não 12, Thủy ngân 12g. Nấu thành cao, bôi ngày 2 lần.
- Cao mềm thạch lựu bì: bột Thạch lựu bì 1 phần, dầu vừng 3 phần, luyện thành dạng hồ để bôi.
*Châm cứu: Khúc trì, Nội quan, Thần môn, Huyết hải, Phi dương, Tam âm giao. Châm ngày 1 lần, 1 liệu trình 15 ngày.
Vẩy nến - Thể Phong huyết Nhiệt:
*TC:
- Mặt da nổi lên sẩn đỏ hoặc tím, có thể nhỏ như đinh ghim, có thể tụ thành từng đám, mảng.
- Bề mặt da tăng sinh nhiều tầng, trắng như sáp nến, ngứa nhiều, sau khi bong đi để lại lớp da đỏ và có điểm xuất huyết nhỏ.
- Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác.
*Pháp: Thanh nhiệt, lương huyết.
*Phương: Dùng bài Hoè Hoa Thang gia giảm: Sinh Hoa hoè, Sinh địa, Thổ phục linh, Thạch cao đều 40g, Thăng ma, Tử thảo, Địa phu tử đều 12g, Thương nhĩ tử 20g. Sắc uống.
Hoặc dùng bài:
Cúc hoa, Khổ sâm, Xích thược, Thương nhĩ tử mỗi vị 12g, Đan bì 8, Cam thảo 8, Kim ngân hoa 16, Sinh địa 16, Thổ phục 20.
*Thuốc bôi ngoài:
- Đại phong từ nhân: Ma nhân 16, Mộc triết tử 12, Long não 12, Thủy ngân 12g. Nấu thành cao, bôi ngày 2 lần.
- Cao mềm thạch lựu bì: bột Thạch lựu bì 1 phần, dầu vừng 3 phần, luyện thành dạng hồ để bôi.
*Châm cứu: Khúc trì, Nội quan, Thần môn, Huyết hải, Phi dương, Tam âm giao. Châm ngày 1 lần, 1 liệu trình 15 ngày.
Đọc thêm!
VẨY NẾN - Thể huyết hư Phong Táo
*TC:
- Các tổn thương thành đám, mảng, sẩn cộm, thường có màu hồng đỏ hoặc tím nhợt, có thể có sắc hồng xám thâm.
- Thời kỳ này ngứa giảm, hầu như không ngứa, tổn thương da thu nhỏ hơn, có chỗ tự tiêu đi hoàn toàn chỉ còn lại mặt da trắng bạc phẳng.
- Ăn uống, đại tiện thời kỳ này hầu như bình thường.
- Chất lưỡi hồng nhợt, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch đới huyền hoặc huyền mà tế.
*Pháp: Dưỡng huyết, nhuận táo, khu phong.
*Phương: Bài thuốc thường dùng: Đương quy 12, Đan bì 12, Hà thủ ô đỏ 16, Sinh địa 16, Bạch tật lê đều 12, Ô tiêu xà 16, Phòng phong 12, Thuyền thoái 8.
*Thuốc bôi ngoài:
- Đại phong từ nhân: Ma nhân 16, Mộc triết tử 12, Long não 12, Thủy ngân 12g. Nấu thành cao, bôi ngày 2 lần.
- Cao mềm thạch lựu bì: bột Thạch lựu bì 1 phần, dầu vừng 3 phần, luyện thành dạng hồ để bôi.
*Châm cứu: Khúc trì, Nội quan, Thần môn, Huyết hải, Phi dương, Tam âm giao. Châm ngày 1 lần, 1 liệu trình 15 ngày.
Vẩy nến - Thể Phong huyết Nhiệt:
*TC:
- Mặt da nổi lên sẩn đỏ hoặc tím, có thể nhỏ như đinh ghim, có thể tụ thành từng đám, mảng.
- Bề mặt da tăng sinh nhiều tầng, trắng như sáp nến, ngứa nhiều, sau khi bong đi để lại lớp da đỏ và có điểm xuất huyết nhỏ.
- Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác.
*Pháp: Thanh nhiệt, lương huyết.
*Phương: Dùng bài Hoè Hoa Thang gia giảm: Sinh Hoa hoè, Sinh địa, Thổ phục linh, Thạch cao đều 40g, Thăng ma, Tử thảo, Địa phu tử đều 12g, Thương nhĩ tử 20g. Sắc uống.
Hoặc dùng bài:
Cúc hoa, Khổ sâm, Xích thược, Thương nhĩ tử mỗi vị 12g, Đan bì 8, Cam thảo 8, Kim ngân hoa 16, Sinh địa 16, Thổ phục 20.
*Thuốc bôi ngoài:
- Đại phong từ nhân: Ma nhân 16, Mộc triết tử 12, Long não 12, Thủy ngân 12g. Nấu thành cao, bôi ngày 2 lần.
- Cao mềm thạch lựu bì: bột Thạch lựu bì 1 phần, dầu vừng 3 phần, luyện thành dạng hồ để bôi.
*Châm cứu: Khúc trì, Nội quan, Thần môn, Huyết hải, Phi dương, Tam âm giao. Châm ngày 1 lần, 1 liệu trình 15 ngày.
Đọc thêm!
Trĩ
Câu 4 – Định nghĩa, nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh bệnh trĩ
1.YHHĐ
*ĐN: Trĩ là một bệnh mạn tính, do các tĩnh mạch trực tràng, hậu môn bị giãn không hồi phục và xung huyết, tĩnh mạch xung huyết thành 1 búi hoặc nhiều búi.
*NN: Nhiều nguyên nhân:
- Viêm đại trạng mạn tính gây táo bón thường xuyên, đại tiện rặn nhiều
- Viên gan, xơ gan gây xung huyết tĩnh mạch
- Các bệnh nghề nghiệp do đứng lâu
- Có thai làm trương lực cơ thành bụng và
*Cơ chế bệnh sinh:
Có các thuyết giải thích cơ chế sinh bệnh của Trĩ:
- Thuyết mạch máu: Nói tới vai trò của các shunt động - tĩnh mạch, khi các yếu tố khởi bệnh tác động làm các shunt này mở rộng, máu chảy ồ ạt từ động mạch vào các đám rối tĩnh mạch khiến các đám rối tĩnh mạch bị đầy giãn quá mức, nếu lúc đó lại có một nguyên nhân cản trở máu về như rặn mạnh vì táo bón,… thì khi đó các tĩnh mạch sẽ bị giãn ra và xung huyết. Đồng thời thuyết này cũng giải thích tại sao máu chảy ra trong bệnh trĩ là máu đỏ tươi, vì là máu trực tiếp từ động mạch đổ sang tĩnh mạch.
- Thuyết cơ học: Dưới tác động của áp lực tăng cao khi rặn ỉa do táo bón,… khiến các bộ phận nâng đỡ tổ chức trĩ bị giãn dần và trở nên lỏng lẻo. Các búi trĩ bị sa xuống dưới và dần dần nằm ngoài lỗ hậu môn. Luồng máu trở về bị cản trở, trong khi luồng máu động mạch vẫn tới, lại tạo áp lực cao ở tĩnh mạch, quá trình này tạo một vòng xoáy bệnh lý, diễn ra lâu ngày làm mức độ sa giãn trĩ ngày càng nặng.
2. YHCT:
*ĐN: Bệnh trĩ thuộc phạm vi chứng Hạ trĩ. Các sách cổ chia làm 5 loại trĩ: Mẫu Trĩ, Tẫn Trĩ, Trường Trĩ, Mạch Trĩ, Huyết Trĩ
*Nguyên nhân – cơ chế bệnh sinh: Nguyện nhân cơ chế bệnh của bệnh trĩ không ngoài thấp nhiệt và 2 tạng Tỳ, Đại trường. Nội kinh có ghi: nguyên nhân bệnh trĩ hạ là do cân mạch bị dãn rộng, phát sinh bệnh trĩ không đơn giản chỉ do bệnh lý tại chỗ, mà còn do cơ thể, âm dương, khí huyết không điều hòa. Bên ngoài do lục đâm, bên trong do thất tình:
- Ngoại tà: Thấp nhiệt sinh kiết lỵ, kiết lỵ lâu ngày rặn nhiều sinh trĩ.
- Đại trường tích nhiệt: Đại tiện táo bón lâu ngày, hay nín nhịn đại tiện sinh trĩ
- Ăn uống không điều hòa, khi no quá, khi đó quá, uống rượu, ăn nhiều thức ăn cay nóng, nhờn béo khiến Tỳ Vị mất điều hòa, Tỳ hư gây thấp trệ, thấp nhiệt dồng xuống giang môn, lại cộng với Tỳ hư mà sinh chứng hạ hãm từ đó mà sinh bệnh.
- Lao động nặng nhọc, ngồi xổm, phụ nữ có thai khiến khí hãm gây trĩ.
Trĩ Nội Xuất Huyết hoặc Thể Huyết Ứ:
Đi ngoài xong huyết ra từng giọt, đau, táo bón.
Pháp: Lương huyết, chỉ huyết, hoạt huyết, khứ ứ.
Phương:
- Hoạt Huyết Địa Hoàng Thang gia giảm: Sinh địa 20g, Đương quy, Xích thược, Hoàng cầm, Địa du, Hòe hoa, Kinh giới đều 12g. Sắc uống.
Nếu táo bón gia thê Hạt vừng đen 12g, Đại hoàng 4g
- Tứ Vật Đào Hồng Thang gia giảm: Sinh địa, Bạch thược, Trắc bá diệp, Hắc chi ma đều 12g, Đương quy, Xuyên khung, Hồng hoa, Đào nhân, Hòe hoa, Chỉ xác đều 8g, Đại hoàng 4g. Sắc uống
- Châm cứu: trường cường, thứ liêu, tiểu tường du, đại trường du, túc tam lý, tam âm giao, thừa sơn, hợp cốc.
Trĩ Lâu Ngày Gây Thiếu Máu ở Người Lớn Tuổi (Thể Khí Huyết Đều Hư):
Đi ngoài ra máu lâu ngày, chóng mặt, hoa mắt, ù tai, sắc mặt trắng, rêu lưỡi trắng mỏng, người mệt mỏi, hơi thở ngắn, tự ra mồ hôi, mạch Trầm Tế.
Pháp: Bổ khí huyết, thăng đề, chỉ huyết.
Phương:
- Tứ vật gia vị nếu huyết hư: Thục địa, Xuyên quy, Bạch thược, Địa du, Hoàng kỳ mỗi vị 12g, Xuyên khung 8g, A giao 8g, Cam thảo 4g.
- Bổ Trung Ích Khí Thang gia giảm: Đẳng sâm 16g, Hoàng kỳ, Bach truật, Sài hồ, Kinh giới sao đen mỗi vị 12g, Đương quy, Thăng ma, Địa du sao đen, Hòe hoa sao đen mỗi vị 8g, Trần bì 6g, Cam thảo 4g.
Trĩ Ngoại Bị Viêm Nhiễm (Hoặc thể Thấp Nhiệt):
Vùng hậu môn sưng đỏ, đau, trĩ bị sưng to, đau, táo bón, nước tiểu đỏ.
Pháp: Thanh nhiệt, lợi thấp, hoạt huyết, chỉ thống.
Phương:
- Hòe Hoa Tán gia vị: Hòe hoa, Trắc bá diệp, Địa du, Chi tử (sao đen) đều 12g, Kinh giới (sao đen), Kim ngân hoa đều 16g, Chỉ xác, Xích thược đều 8g, Cam thảo 4g. Sắc uống.
- Chỉ Thống Thang gia giảm: Hoàng bá, Hoàng liên, Xích thược, Trạch tả đều 12g, Sinh địa 16g, Đào nhân, Đương quy, Đại hoàng đều 8g. Sắc uống .
- Châm cứu: châm tả các huyệt :trường cường, thứ liêu, tiểu tường du, đại trường du, túc tam lý, tam âm giao, thừa sơn, hợp cốc.
Đọc thêm!
Phì đại TLT
1.Định nghĩa:
*Theo yhhđ: Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (BPH) bao gồm tăng sản tế bào tổ chức đệm và tăng sản các tuyến, từ đó làm tăng kích thước của tiền liệt tuyến.
*Đông y xếp vào chứng long bế. Là loại bệnh tiểu tiện khó khăn, thậm chí bế tắc không thông. Bệnh tiến triển từ từ, tiểu tiện nhỏ giọt, lượng ít gọi là Long. Bệnh tiến triển cấp tính, tiểu tiện không thông, muốn bài tiết mà không được gọi là Bế.
2.Cơ chế bệnh sinh:
*Theo yhhđ:
Nguyên nhân chủ yếu do rối loạn nội tiết tố nam và estrogen dẫn tới tiền liệt tuyến tăng kích thước chèn ép vào niệu đạo gây khó khăn cho đi tiểu: tiểu ngập ngừng, tiểu nhiều lần.
*Theo yhct:
- Âm hư hỏa vượng: sinh hoạt tình dục quá mức làm cho tinh khí hao tổn, thận tinh bị tổn hại, âm hư hỏa vượng, tướng hỏa vọng động làm cho tinh khí bị tổn hại, bị ngăn trở rót vào tinh cung, thấp trệ hóa thành nhiệt khiến cho bại tinh, hợp với hỏa sinh ra.
- Thận nguyên hư suy: Người lớn tuổi, thân thể suy yếu hoặc phòng lao quá độ làm cho tinh bị hao tổn, âm tổn khiến cho thận dương và thận nguyên bị suy yếu, mệnh môn hỏa suy, không cố nhiếp được, tinh quan ko vững, tinh ko bế tàng được thì phải tiết ra.
- Do thấp nhiệt ứ trở: Ngoại cảm thấp nhiệt độc tà hoặc cảm hàn tà hóa thành nhiệt, nhiệt và thấp tương tranh, thấp nhiệt dồn xuống phía dưới rót vào tinh cung, uẩn kết không tan làm cho khí trệ, huyết ngưng, kinh lạc bị ngăn cách. Thấp nhiệt dồn xuống vào bàng quang khiến cho khí ở bàng quang ko hóa được, hoặc do ăn quá nhiều thức ăn cay nóng, ủ thấp sinh nhiệt, Thận nhiệt chuyển xuống Bàng quang, làm Bàng quang tích nhiệt, khí hóa bất thông.
- Tỳ khí hư hạ hãm: Lao nhọc quá sức, ngồi lâu, tương tư hoặc do ăn uống thất thường làm cho Tỳ Vị bị tổn thương, Tỳ không hóa được thấp trở trệ ở tinh cung, Tỳ hư trung khí hạ hãm, cốc khí ko chuyển đc xuống dưới, tinh và trọc tương bác nhau khiến cho tiểu ra chất đục.
- Tinh cung bị ứ trở: Thấp nhiệt lâu ngày không được thanh đi, tướng hỏa lâu ngày không tiết ra được, tinh bị ứ lại thành trọc, tinh ứ lâu ngày, tinh đạo, tinh cung, khí huyết bị ngưng kết gây nên.
- Do Phế nhiệt, khí uất không thông điều được thủy đạo, nhiệt tà rót xuống bàng quang, làm cho thượng tiêu và hạ tiêu đều bị nhiệt khí làm ủng tắc gây chứng long bế.
TIỀN LIỆT TUYẾN THỂ ÂM HƯ HỎA VƯỢNG
*TC:
- Lưng đau, chân mỏi
- Đầu váng, hoa mắt, ngũ tâm phiền nhiệt, di tinh, rối loạn sinh dục
- Vùng hội âm có cảm giác tức nặng, khi tiểu và đại tiện thì tiết ra chất dịch đục.
- Tiểu ít, nước tiểu đỏ, tiểu khó, mạch trầm tế sác.
*Chẩn đoán:
- BC: Lý hư trung hiệp thực nhiệt.
- Tạng phủ: Thận
- Nguyên nhân: Bất nội ngoại nhân: Sinh hoạt tình dục quá độ.
- Bệnh danh: Long bế.
*Biện chứng:
Sinh hoạt tình dục quá mức làm cho tinh khí hao tổn, thận tinh bị tổn hại, âm hư hỏa vượng, tướng hỏa vọng động làm cho tinh khí bị tổn hại, bị ngăn trở rót vào tinh cung, thấp trệ hóa thành nhiệt khiến cho bại tinh, hợp với hỏa sinh ra bệnh. Thận âm hư mà sinh chứng lưng đau, chân mỏi. Âm hư hỏa vượng mà sinh chứng đầu vàng, mắt hoa, ngũ tâm phiền nhiệt, tiểu đỏ, mạch trầm tế sác. Thận tinh hư tổn mà sinh chứng di tinh.
*Pháp: ích khí tư âm, thanh tiết tướng hỏa
*Phương: Tri bá địa hoàng hoàn hợp với Tỳ giải phân thanh ẩm
Tri mẫu, hoàng bá, đơn bì, phục linh, trạch tả, địa hoàng, sơn dược, sơn thù, tỳ giải, thạch xương bồ, bạch truật, liên tử tâm, đan sâm, xa tiền tử.
- Phân tích: Lục vị địa hoàng hoàn để bổ thận âm. Tri mẫu, hoàng bá tiết tướng hỏa vọng động. Tỳ giải thanh tâm, ích trí, lợi thấp, hóa trọc.
- Châm cứu: Thận du, quan nguyên, tam âm giao, thái khê, trung cực
TIỀN LIỆT TUYẾN THỂ THẬN DƯƠNG HƯ
*TC:
- Lưng đau, liệt dương, tảo tinh
- Chân tay lạnh, sợ lạnh
- Tiểu trong dài, tiểu có lẫn chất tinh
- Sắc mặt trắng nhạt, tinh thần uể oải, lưỡi nhạt bệu, mạch trầm trì.
*Chẩn đoán:
- BC: Lý hư hàn
- Tạng phủ: Thận dương
- Nguyên nhân: Thiên quý suy, bất nội ngoại nhân: phòng lao quá độ.
- Bệnh danh: Long bế.
*Biện chứng:
Người lớn tuổi, thân thể suy yếu hoặc phòng lao quá độ làm cho tinh bị hao tổn, âm tổn khiến cho thận dương và thận nguyên bị suy yếu, mệnh môn hỏa suy, không cố nhiếp được, tinh quan không vững, tinh không bế tàng được thì phải tiết ra. Thận dương hư mà sinh các chứng lưng đau, liệt dương, tảo tinh, tiểu trong dài, tiểu tiện có lẫn tinh. Dương hư mà chân tay lạnh, sợ lạnh, sắc mặt trắng, tinh thần uể oải, lưỡi nhạt bệu, mạch trầm trì.
*Pháp: Ôn thận cố tinh
*Phương: Hữu quy hoàn hợp với Kim tỏa cố tinh hoàn:
sa uyển tật lê, liên tu, long cốt, mẫu lệ, thục địa, sơn thù, sơn dược, kỷ tử, đỗ trọng, thỏ ty tử, đương quy, lộc giác giao, phụ tử, nhục quế.
- Phân tích: Thục địa, sơn thù, sơn dược, kỷ tử, đỗ trọng, lộc giác giao đại bổ thận khí, ích âm trợ dương.Phụ tử, nhục qué ôn thận, dẫn hỏa quy nguyên. Thỏ ty tử, tật lê, khiếm thực, liên tu ích thận, cố tinh. Đương quy hòa doanh, điều huyết. Long cốt, mẫu lệ cố sáp ở hạ nguyên.
- Châm cứu: Mệnh môn, thận du, quan nguyên, thái khê, âm cốc.
TIỀN LIỆT TUYẾN THỂ THẤP NHIỆT HẠ TRÚ
*TC:
- Tiểu nhiều, tiểu rắt, tiểu buốt
- Đường tiểu nóng, đau, đường tiểu thường có chất trắng đục, dính như mỡ tiết ra
- Cảm giác khó chịu vùng bụng dưới, vùng hội âm chướng đau, đau lan xuống xương cùng, âm hoành và đùi
- Toàn thân lúc nóng lúc lạnh, nước tiểu vàng, đỏ hoặc tiểu ra máu, táo bón, miệng khô, đắng, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng bệu, mạch hoạt sác.
*Chẩn đoán:
- BC: Lý thực nhiệt
- Tạng phủ, kinh lạc: Bàng quang
- Nguyên nhân: Ngoại nhân: thấp nhiệt; Bất nội ngoại nhân: ăn uống
- Bệnh danh: Long bế
*Biện chứng:
Ngoại cảm thấp nhiệt độc tà hoặc cảm hàn tà hóa thành nhiệt, thấp nhiệt dồn xuống vào bàng quang; hoặc do ăn quá nhiều thức ăn cay nóng, ủ thấp sinh nhiệt, nhiệt chuyển xuống Bàng quang, làm Bàng quang tích nhiệt, khí hóa bất thông từ đó mà sinh ra chứng tiểu nhiều, tiểu rắt, tiểu buốt. Vì nhiệt tích ở Bàng quan nên đường tiểu nóng, cảm giác khó chịu vùng bụng dưới. Khí trệ ở hạ tiêu mà sinh chứng đau ở bụng dưới. Chính tà tương tranh mà toàn thân lúc nóng lúc lạnh. Vì bệnh thuộc nhiệt nên nước tiểu vàng, đỏ, đại tiện táo, miệng khô, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác. Nhiệt bức huyết vong hành nên có thể tiểu ra máu.
* Pháp: thanh nhiệt lợi thấp, thông lâm hóa trọc
* Phương: Bát chính tán gia giảm: Cù mạch, xa tiền tử, biển súc, hoạt thạch, đăng tâm, chi tử, đại hoàng, cam thảo. sắc uống
- Ptích: Cù mạch lợi thấp thông lâm, thanh nhiệt lương huyết. Đăng tâm thanh tâm hỏa mà hóa thấp trọc. Xa tiền tử, biển súc, chi tử thanh can nhiệt, thông bàng quang. Đại hoàng thông phủ tả nhiệt. cam thảo hoãn cấp chỉ thống.
- Châm huyệt: trung cực, âm lăng tuyền, tam âm giao, tinh cung
*Nếu nhiệt độc thấp thịnh:
- Triệu chứng: Lạnh nhiều, sốt cao, khát muốn uống, vùng hội âm sưng đỏ, nóng, đau, tiểu nh, tiểu rắt, đường tiểu buốt, đi tiểu ko thấy thoải mái, tiểu ra máu mủ, táo bón, bụng dưới đau, hậu môn nặng, đau, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền hoạt sác.
- Pháp: Thanh nhiệt giải độc, tiết hỏa thông lâm.
- Phương: dùng bài Hoàng liên giải độc thang hợp với Ngũ trần thang và Bát chính tán: Hoàng liên, Hoàng bá, Hoàng câm, chi tử, kim ngân hoa, xa tiền, địa đinh, xích linh, ngưu tất, mộc thông, biển súc, hoạt thạch, đại hoàng, cam thảo,cù mạch, đăng tâm
- Phân tích: tam hoàng, chi tử, kim ngân hoa, địa đinh thanh tả hỏa độc ở tam tiêu.xa tiền,xích linh,mộc thông, biển súc,hoạt thạch,cù mạch,đăng tâm,cam thảo để tiết hỏa thông lâm, khiến cho nhiệt đọc theo đường tiểu mà thoát ra ngoài. Đại hoàng thông phủ tả hỏa, tán nhiệt kết, trừ trọc độc, Ngưu tất dẫn thuốc đi xuống dưới.
Đọc thêm!
Sỏi tiết niệu
SỎI TIẾT NIỆU – THỂ HUYẾT Ứ
*TC:
- Vùng hạ vị đầy trướng, bĩ tức khó chịu và đau, lúc nhẹ lúc nặng, thường cố định, đau xiên, đau nhói, đau kịch liệt
- Bĩ trướng lúc có lúc không, lúc tan lúc tụ: giai đoạn đầu do khí trệ. Khi có huyết ứ: Vùng bụng đau nhói, ấn vào đau tăng, nơi đau cố định.
- Tiểu tiện khó, tiểu tiện ra máu hoặc ra máu cục
- Chất lưỡi tía tối hoặc có điểm ứ huyết, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền.
*Biện chứng luận trị:
Do sỏi làm khí cơ của BQ bất lợi, khí không thông thời thống nên đau, bĩ trướng khó chịu, lúc có lúc không.
Khí trệ nên huyết không lưu thông, huyết ứ nên có các triệu chứng đau nhói, đau xiên, đau cố định, ấn vào đau tăng, chất lưỡi đỏ tía hoặc có điểm ứ huyết.
Bệnh thuộc thực chứng nên mạch huyền.
Vì bệnh do khí trệ huyết ứ, lại do sỏi gây ra nên pháp là lý khí hành trệ, hoạt huyết thông lâm.
*Pháp: lý khí hành trệ, hoạt huyết thông lâm.
*Phương: Tứ vật đào hồng gia giảm: Xuyên khung 12, Đương quy 16, Sinh địa 16, Bạch thược 12, Đào nhân 8, Hồng hoa 8, Chỉ thực 8, Đại phúc bì 12, Uất kim 8, Kê nội kim 8
Hoặc dùng bài: Chỉ xác 12, Đào nhân 8, Kim tiền thảo 20, Sa tiền 20, Kê nội kim 10.
*Châm cứu:
Nếu có cơn đau quặn thận thì kết hợp châm cứu, kích thích mạnh, ngày 1 lần, tùy vào vị trí sỏi mà chọn huyệt.
Nếu là sỏi thận và sỏi niệu quản trên thì châm các huyệt: Thận du, Kinh môn, Túc tam lý
Nếu là sỏi niệu quản dưới, sỏi bàng quang thì châm các huyệt: Quan nguyên, Khí hải, Trung cực, Bàng quang du, Túc tam lý
SỎI TIẾT NIỆU – THỂ THẬN HƯ
*TC:
- Đau lưng âm ỉ đã lâu, người mệt mỏi, vô lực.
- Hay đau đầu, hoa mắt
- Bụng đầy trướng, tiểu tiện không thông, tiểu nhiều lần, nước tiểu đục.
- Chất lưỡi đạm, rêu lưỡi trắng, mạch trầm tế.
*Biện chứng luận trị:
Do thận hư không khí hóa được BQ mà gây ra các chứng tiểu tiện bất thông, tiểu nhiều lần.
Khí hóa BQ bất lợi nên sinh ra sỏi mà gây các chứng nước tiểu đục, thấp ngưng trệ ở hạ tiêu nên bụng đầy trướng.
Vì thận hư nên lưng đau âm ỉ, thận khí hư yếu nên người mệt mỏi, vô lực, hay đau đầu, hoa mắt, chất lưỡi đạm, rêu lưỡi trắng, mạch thì trầm tế.
Vì gốc bệnh là do thận khí hư nên pháp là ích khí bổ thận, thận hư nên sỏi hình thành vì vậy mà cần thông lâm bài thạch.
*Pháp: Ích khí bổ thận, thông lâm bài thạch
*Phương dược: Hữu quy ẩm gia giảm: Thục địa 16, Hoài sơn 12, Sơn thù 8, Cam thảo, Quế nhục 6, Phụ tử 6, Đỗ trọng 12, Trạc tả 12, Kim tiền thảo 20
*Châm cứu:
Nếu có cơn đau quặn thận thì kết hợp châm cứu, kích thích mạnh, ngày 1 lần, tùy vào vị trí sỏi mà chọn huyệt.
Nếu là sỏi thận và sỏi niệu quản trên thì châm các huyệt: Thận du, Kinh môn, Túc tam lý
Nếu là sỏi niệu quản dưới, sỏi bàng quang thì châm các huyệt: Quan nguyên, Khí hải, Trung cực, Bàng quang du, Túc tam lý
SỎI TIẾT NIỆU – THỂ THẤP NHIỆT
*TC:
- Tiểu nóng rít và đau, tiểu rắt, tiểu nhiều lần
- Nước tiểu xuống không hết, thường kèm theo đái ra máu, hoặc đái đục, đái ra sỏi
- Hoặc dang đi tiểu bị đứt quãng đột ngột
- Bụng dưới trướng đầy
- Miệng đắng, khát không muốn uống
- Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dày, dính nhớt
- Mạch huyền sác hay hoạt sác.
*Biện chứng luận trị:
Do thấp nhiệt uất kết ở BQ làm khí của BQ không lợi, sực đóng mở thất thường nên có các triệu chứng rối loạn tiểu tiện: Tiểu nóng rít và đau, tiểu nhiều lần, tiểu rắt, nước tiểu xuống không hết.
BQ bị hỏa nhiệt hun đốt, chất nước kết lại thành sỏi đá mà gây đái đục, đái ra sỏi, có khi đang đi tiểu bị đứt quảng đột ngột do sỏi bít tắc.
Do nhiệt bức huyết, làm tổn thương đường lạc, hoặc do sỏi làm tổn thương huyết lạc mà gây đái máu.
Thấp trệ ở hạ tiêu mà sinh chứng bụng dưới trướng đầy, vì nhiệt mà miệng khát nhưng thấp trệ nên không muốn uống. Nhiệt nên chất lưỡi đỏ, rêu vàng dày, có thấp nên dính nhớt. Vì thực nhiệt nên mạch huyền sác hoặc hoạt sác.
Vì bệnh thuộc lý thực nhiệt lại kèm thấp nên pháp là thanh nhiệt lợi thấp. Vì bệnh do thạch gây nên nên pháp là thông lâm bài thạch.
*Pháp: Thanh nhiệt lợi thấp, thông lâm, bài thạch.
*Phương: Đạo xích tán gia giảm: Sinh địa 16, Đạm trúc diệp 16, Mộc thông 8, Cam thảo sao cháy8, Kim tiền thảo 40, Sa tiền 20, Kê nội kim 8.
Nếu đái máu gia: Cỏ nhọ nồi 16, Tiểu kế 12
Nếu đái nhiều gia: Ô dược 8, Uất kim 8, Diên hồ sách 8
*Châm cứu:
Nếu có cơn đau quặn thận thì kết hợp châm cứu, kích thích mạnh, ngày 1 lần, tùy vào vị trí sỏi mà chọn huyệt.
Nếu là sỏi thận và sỏi niệu quản trên thì châm các huyệt: Thận du, Kinh môn, Túc tam lý
Nếu là sỏi niệu quản dưới, sỏi bàng quang thì châm các huyệt: Quan nguyên, Khí hải, Trung cực, Bàng quang du, Túc tam lý
Đọc thêm!
Nguyên lý kết hợp động trong điều trị gãy xương
- Quan điểm điều trị gãy xương theo Y học cổ truyền là ngoài việc cố định xương gãy còn hết sức chú trọng vận động cơ khớp trong thời gian cố định, không vì cục bộ mà quên mất chỉnh thể, không chỉ lo đến các yếu tố hỗ trợ chỉnh phục và cố định từ bên ngoài mà thiếu quan tâm đến động lực nội tại nơi tổn thương và cơ thể.
- Tĩnh có nghĩa là bất động.
- Động là bất động nhưng ko hoàn toàn và kết hợp với luyện tập.
+ Y học cổ truyền không dùng bó bột mà dùng bó nẹp, bó nẹp không bất động hoàn toàn, chỉ bó nơi xương gãy, khớp trên và dưới nơi xương gãy vẫn cử động.trong đông y có nguyên tắc: bất động ko htoan làm máu lưu thông tốt, xương gãy dễ liền , cơ năng chóng hồi phục.
+ Luyện tập theo nguyên tắc: Trong suốt tgian bất động phải huy động hết các khớp còn lại và toàn thân hoạt động để tăng cường tuần hoàn nâng cao chuyển hóa làm xương chóng liền và cơ năng chóng hồi phục phòng di chứng và biến chứng khác.
- Mặt khác liền xương có 2 cách là:nguyên lý liền xương:
+ Liền xương trực tiếp ở bó bột, xương tuy liền rất nhanh, nhưng xương liền rất yếu, phải để dụng cụ nâng đỡ 1 tgian rất lâu, có khi hàng năm.
+ Liền xương gián tiếp: do bất động ko hoàn toàn sẽ tạo lớp can thô, sau đó 3-4 tuần xương bắt đầu liền, có thể tháo dụng cụ bó nơi gãy ra. Sau này hủy cốt bào sẽ gọt dần lớp can thô và khoảng một năm sau thì liền chắc hoàn toàn.
Có nghĩa là cục bộ ảnh hưởng đến chỉnh thể, chỉnh thể cũng có khả năng tác động đến cục bộ. Nhờ đó mà kiến lập được nguyên tắc điều trị: “Trong tĩnh có động, động tĩnh kết hợp”.
Đọc thêm!
CHỨNG TRÚNG HÀN, TRÚNG THỬ VÀ TRÚNG PHONG
CHỨNG TRÚNG HÀN, TRÚNG THỬ VÀ TRÚNG PHONG
1- CHỨNG TRÚNG HÀN
Định nghĩa: Trúng hàn là hàn từ ngoài vào nhân người hư yếu chính khí suy vượt qua 3 kinh dương vào thẳng 3 kinh âm hoặc tạng phủ gây nên trạng thái ngã lăn ra, bất tỉnh nhân sự, cấm khẩu, miệng lưỡi cứng đờ, chân tay giá lạnh, co quắp hoặc bụng đau như dùi đâm (Thuốc nam châm cứu, Nam dược thần hiệu – Trúng hàn)
Nguyên nhân: Nguyên nhân là hai khí dinh vệ trong người suy yếu, tấu lý sơ hở, gặp giá lạnh, hàn tà đột ngột đánh thẳng vào 3 kinh âm/tạng phủ làm các khiếu bị tắc gây bất tỉnh nhân sự, khí lạnh làm dương khí tiêu tán gây chân tay giá lạnh, cơ thể giá lạnh nên cần phải cấp cứu.
Triệu chứng: Đang đi ngoài đường lạnh giá bỗng nhiên ngã lăn ra bất tỉnh nhân sự, mất cảm giác, thân thể co quắp, giá lạnh, không nói được, môi xanh/tím hoặc đau bụng dữ dội, không sốt, rêu lưỡi trắng nhuận, mạch trầm khẩn hoặc trầm tế/vi.
Đặc điểm triệu chứng trúng hàn khác trúng phong là không có biểu hiện liệt 1/2 người, miệng méo, mắt lệch.
Liên hệ với YHHĐ: hay gặp trong các trường hợp
Xử trí: Đưa nhanh bệnh nhân vào nơi kín gió, ủ ấm cho bệnh nhân
Pháp điều trị: Ôn trung cứu nghịch.
Phương thuốc: Trích từ thuốc nam châm cứu – trúng hàn
Bài 1: Sinh khương 20g, rượu trắng 20ml. Giã vắt nước cốt gừng hòa với rượu hâm lên cho ấm, đổ cho uống mỗi lần 10ml, uống cho đến lúc tỉnh.
Phương thuốc dùng ngoài:
Hành củ 50g, cám gạo 60g, muối 30g hoặc chỉ dùng một vị hành củ giã nát, sao nóng chia 2 gói bằng vải thay đổi nhau chườm lên rốn hoặc cứu huyệt thần khuyết đến khi chân tay ấm.
2- CHỨNG TRÚNG THỬ
Định nghĩa: Trúng thử là người đang làm việc ở nơi nắng gắt đột nhiên ngã vật ra bất tỉnh nhân sự, người rất nóng, có mồ hôi (ít hoặc nhiều), thở dốc không nói mồm há hoặc hàm răng hơi cắn chặt, lưỡi đỏ, mạch hồng nhu hoặc sác.
Bệnh thường xảy ra vào các tiết tiểu thử, đại thử, xử thử mà nội kinh gọi là Tam phục.
Nguyên nhân: Nguyên nhân là thử nhiệt đã vượt qua dương minh (Vệ khí) vào tới tạng phủ (dinh huyết).
Liên hệ với YHHĐ: hay gặp trong các trường hợp
Xử trí: ở bệnh nhân bất tỉnh nhân sự, đưa nhanh bệnh nhân vào chỗ mát, không được cho uống nước lạnh, không được đặt xuống đất ướt.
Pháp điều trị: Khai khiếu tỉnh thần
Châm cứu: Nhân trung, thập tuyên hoặc giật tóc mai cho tỉnh đồng thời kết hợp dùng: Nước tiểu trẻ em 20 – 30ml cho uống và lấy khăn tẩm nhiều nước tiểu trẻ em khác xoa khắp người rồi đắp rốn, đắp mặt.
Đồng tiện: Tính mát, lành tác dụng thanh nhiệt khí, trừ lao, hạ xuyễn, điều trị trưng hà, cầm máu, sát trùng (Hải Thượng Y tông tâm lĩnh – Tập 3)
3- CHỨNG TRÚNG PHONG
3.1.Định nghĩa: Trúng phong là chứng bệnh phát sinh cấp, đột ngột và rất nặng. Bệnh nhân bỗng nhiên ngã lăn ra bất tỉnh nhân sự hoặc bán thân bất toại hoặc tứ chi không cử động được, mặt méo, mắt lệch, nói khó. Có trường hợp nhẹ hơn không bất tỉnh nhân sự nhưng vẫn có bán thân bất toại.
3.2. Bệnh danh: Trúng phong, bán thân bất toại (cần lưu ý phân biệt thuật ngữ trúng phong trong thương hàn luận: Phong tà nhập biểu)
3.3. Nguyên nhân – Cơ chế sinh bệnh:
Bệnh phần nhiều do chính khí hư suy, can phong nội động gây ra, chủ yếu do nội phong gây ra, có thể phối hợp với ngoại phong cùng gây bệnh, hiếm khi chỉ do ngoại phong gây ra. Cụ thể, người ta thường nói tới 3 loại nguyên nhân sau:
+ Tình chí tổn thương, sinh hoạt mất bình thường, âm dương trong người rối loạn, đặc biệt là thận âm thiếu, tâm hoả bốc mạnh, can không được nuôi dưỡng, dương bốc lên trên, cuối cùng can phong bạo phát gây bệnh.
+ Ăn uống không điều độ, lao lực quá sức, tỳ không kiện vận, thấp tụ sinh đàm, đàm uất hoá nhiệt, can phong cùng đàm quấy nhiễu bên trên, che kín thanh khiếu xuyên vào kinh lạc mà đột nhiêu phát bệnh.
+ Môi trường khác nhau, cũng có thể do kinh lạc hư trống phong tà xâm nhập gây nên.
Do người vốn âm hư dương cang, đàm trọc quá thịnh, lại thêm ngoại cảm phong tà thúc đấy nội phong mà gây bệnh.
Như vậy, về cơ chế bệnh sinh thấy nổi lên sự tác động qua lại của các yếu tố: Phong (can phong); hoả (tâm hoả, can hoả), đàm (thấp đàm, phong đàm), khí (khí hư, khí nghịch), huyết (huyết ứ). Một số tài liệu khác cho rằng: 4 yếu tố chính là phong, hoả, đàm và sự tắc nghẽn (khí huyết ứ).
3.4. Các thể bệnh và điều trị:
- Trúng phong kinh lạc: 2 thể: âm hư hoả vượng; phong đàm (có tài liệu xếp thêm thể: mạch lạc hư trống, phong tà xâm nhập).
- Trúng phong tạng phủ: 2 thể: chứng bế; chứng thoát.
3.4.1.Trúng phong kinh lạc: (TBMMN không có hôn mê).
a. Âm hư hoả vượng: Thường gặp ở những người CHA thể can, thận âm hư.
- Triệu chứng: liệt 1/ 2 người; liệt mặt, có thể thoáng mất ý thức, hoa măt chóng mặt, mạch huyền tế sác.
- Biện chứng: can thận âm hư, can dương bốc mạnh, âm dương mất cân bằng, huyết dâng khí nghịch, trên thịnh dưới hư, nên đau đầu, tài ù mắt mờ, ngủ ít… Can phong nội động, phong chạy vào kinh mạch gây liệt nửa người, mạch huyền tế sác.
- Pháp điều trị: tư âm tiềm dương, khứ phong thông lạc (trấn can, tức phong)
- Điều trị:
Bài thuốc: Bình can tức phong thang gia giảm:
Thiên ma 16g Nam tinh 10g
Câu dằng 16g Điạ long 10g
Bạch tật lê 12g Ngô công 12g
Cương tàm 12g Chỉ xác 12g
Hy thiêm 16g Hồng hoa 12g
Bài Trấn can thức phong thang gia giảm:
Bạch thược 12g Mẫu lệ 10g
Huyền sâm 12g Ngưu tất 10g
Quy bản 12g Câu đằng 12g
Long cốt 10g Cúc hoa 8g
Xương bồ 10g Địa long 10g
Viễn chí 8g Hồng hoa 8g
- Châm cứu: Châm các huyệt bên liệt, châm xuyên huyệt, châm tả các kinh dương – bổ các kinh âm, thay đổi huyệt: Một ngày châm tư thế nằm thẳng, một ngày châm tư thế nằm nghiêng. Cụ thể:
- Thuỷ châm: Vitamin nhóm B liều cao, Vitamin C nếu có nhiệt nhiều.
- Xoa bóp – bấm huyệt: làm các động tác (18) ở nửa bên liệt. Nên hướng dẫn người nhà bệnh nhận làm thường xuyên, 2h/lần đặc biệt ngay những ngày đầu tránh loét và cứng khớp.
Hướng dẫn bệnh nhân làm các động tác tự tập: Đây là vấn đề quan trọng.
b. Phong đàm: “ thường gặp ở những người CHA thể đàm thấp”.
1. Triệu chứng: Liệt nửa người, liệt mặt, miệng nhiều dớt dãi, lưỡi cử động khó khăn, rêu lưỡi trắng dày, mạch huyền hoạt.
2. Biện chứng: Đàm uất hoá hoả, sinh phong. Phong đàm chạy vào kinh mạch gây liệt nửa người, mạch huyền hoạt, lưỡi nhớt, rêu trắng dày.
3. Pháp điều trị: Thanh đàm, tức phong, thông lạc, kiện tỳ trừ thấp.
4. Phương:
- Bài thuốc:
Đạo đàm thang gia giảm:
Bán hạ chế 8g Chỉ thực 8g
Phục linh 8g Toàn yết 4g
Trần bì 6g Cương đàm 8g
Cam thảo 6g đởm nam tinh 8g
Gia: Hoàng cầm, Tang ký sinh, Trúc như, Bạch truật, Đào nhân.
Bài Trấn can tức phong thang gia giảm: giảm liều bổ âm, gia Đởm tinh, Trúc lịch, Hoàng cầm, Thạch cao.
- Châm cứu: Châm như trên thêm huyệt Phong long, Tỳ du.
- Thuỷ châm: như trên
- Xoa bóp – Bấm huyệt: như trên
- Hướng dẫn bệnh nhân tập luyện: như trên
3.4.2. Trúng phong tạng phủ: TBMMN có hôn mê. Bệnh cảnh lâm sàng rất nặng, cần phải phối hợp các biện pháp hồi sức tích cực của YHHĐ. Đông y chia làm 2 loại là chứng bế và chứng thoát. Cần phân biệt rõ 2 chứng này để có pháp điều trị thích hợp: chứng bế là chứng thực cần gấp khử tà; chứng thoát là chứng hư cần gấp phù chính cứu thoát.
Triệu chứng chung: Lúc bắt đầu, có đột nhiên ngã vật, bất tỉnh nhân sự, chân tay bất toại, mồm méo, chảy rãi, nặng hơn có thể tử vong.
- Chứng bế thường do phong động, đờm nghịch: gồm dương bế và âm bế. Dương bế do phong dương và can hỏa gây nên.
Âm bế thường do phong đờm gây nên.
- Chứng thoát thường do chân khí bạo tuyệt.
3.4.2.1. Dương bế:
Triệu chứng: Bất tỉnh nhân sự (Hôn mê nông), mặt đỏ, thở phì phò, tay nắm, chân duỗi, hàm răng cắn chặt, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch huyền hoạt sác.
Xử trí: Thanh nhiệt, khai khiếu, thông lạc.
Phương thuốc: Ngải cứu 20g, nước tiểu trẻ em 1 bát, giã nát ngải cứu, cho nước tiểu trẻ em vào hòa đều, vắt lấy nước cốt, bỏ bã. Uống 2 thìa canh 1 lần, ngày uống nhiều lần (Thuốc nam châm cứu – trúng phong). Nếu hàm răng cắn chặt thì dùng ô mai thịt xát vào chân răng cho miệng há ra để đổ thuốc.
Ý nghĩa: Nước tiểu trẻ em để khai khiếu tỉnh thần, ngải diệp để khu tà.
3.4.2.2. Âm bế:
Triệu chứng: Bất tỉnh nhân sự yên tĩnh, thở khò khè, mạch trầm hoãn, rêu lưỡi trắng nhờn.
Xử trí: Khai khiếu.
Phương thuốc: hạt củ cải 4g sao chín, quả bồ kết bỏ hột nướng vàng 4g, tán mịn, uống mỗi lần 4g với nước sôi, nếu nôn được đờm ra là tỉnh. (Thuốc nam châm cứu – trúng phong).
Ý nghĩa: Bạch giới tử (hạt cải củ), tạo giác (Bồ kết) thuộc nhóm ôn hóa hàn đàm, trong đó hạt củ cải chữa chứng âm trở do đàm ở bên trong, bồ kết tác dụng trừ đàm thông khiếu.
3.4.2.3.Chứng thoát
Triệu chứng: Bất tỉnh nhân sự (Hôn mê sâu), mắt mở, miệng há, bàn tay duỗi, thở nhanh, lưỡi rụt lại, mặt sắc xanh, nặng thì vã mồ hôi hột lạnh, mạch khó sờ thấy, nhị tiện tự chảy, hơi thở rất yếu – là chứng nguy kịch.
Xử trí: Cố thoát hồi dương.
Phương thuốc: “Sâm phụ thang” Nhân sâm 16g, phụ tử 12g. Sắc uống cấp cứu. Có thể cứu kết hợp Quan nguyên, khí hải hoặc thần khuyết cho tới lúc có chân tay ấm, mạch rõ, hết mồ hôi thì thôi.
Ý nghĩa: Nhân sâm đại bổ nguyên khí, cố thoát. Phụ tử để hồi dương.
Đọc thêm!
1- CHỨNG TRÚNG HÀN
Định nghĩa: Trúng hàn là hàn từ ngoài vào nhân người hư yếu chính khí suy vượt qua 3 kinh dương vào thẳng 3 kinh âm hoặc tạng phủ gây nên trạng thái ngã lăn ra, bất tỉnh nhân sự, cấm khẩu, miệng lưỡi cứng đờ, chân tay giá lạnh, co quắp hoặc bụng đau như dùi đâm (Thuốc nam châm cứu, Nam dược thần hiệu – Trúng hàn)
Nguyên nhân: Nguyên nhân là hai khí dinh vệ trong người suy yếu, tấu lý sơ hở, gặp giá lạnh, hàn tà đột ngột đánh thẳng vào 3 kinh âm/tạng phủ làm các khiếu bị tắc gây bất tỉnh nhân sự, khí lạnh làm dương khí tiêu tán gây chân tay giá lạnh, cơ thể giá lạnh nên cần phải cấp cứu.
Triệu chứng: Đang đi ngoài đường lạnh giá bỗng nhiên ngã lăn ra bất tỉnh nhân sự, mất cảm giác, thân thể co quắp, giá lạnh, không nói được, môi xanh/tím hoặc đau bụng dữ dội, không sốt, rêu lưỡi trắng nhuận, mạch trầm khẩn hoặc trầm tế/vi.
Đặc điểm triệu chứng trúng hàn khác trúng phong là không có biểu hiện liệt 1/2 người, miệng méo, mắt lệch.
Liên hệ với YHHĐ: hay gặp trong các trường hợp
Xử trí: Đưa nhanh bệnh nhân vào nơi kín gió, ủ ấm cho bệnh nhân
Pháp điều trị: Ôn trung cứu nghịch.
Phương thuốc: Trích từ thuốc nam châm cứu – trúng hàn
Bài 1: Sinh khương 20g, rượu trắng 20ml. Giã vắt nước cốt gừng hòa với rượu hâm lên cho ấm, đổ cho uống mỗi lần 10ml, uống cho đến lúc tỉnh.
Phương thuốc dùng ngoài:
Hành củ 50g, cám gạo 60g, muối 30g hoặc chỉ dùng một vị hành củ giã nát, sao nóng chia 2 gói bằng vải thay đổi nhau chườm lên rốn hoặc cứu huyệt thần khuyết đến khi chân tay ấm.
2- CHỨNG TRÚNG THỬ
Định nghĩa: Trúng thử là người đang làm việc ở nơi nắng gắt đột nhiên ngã vật ra bất tỉnh nhân sự, người rất nóng, có mồ hôi (ít hoặc nhiều), thở dốc không nói mồm há hoặc hàm răng hơi cắn chặt, lưỡi đỏ, mạch hồng nhu hoặc sác.
Bệnh thường xảy ra vào các tiết tiểu thử, đại thử, xử thử mà nội kinh gọi là Tam phục.
Nguyên nhân: Nguyên nhân là thử nhiệt đã vượt qua dương minh (Vệ khí) vào tới tạng phủ (dinh huyết).
Liên hệ với YHHĐ: hay gặp trong các trường hợp
Xử trí: ở bệnh nhân bất tỉnh nhân sự, đưa nhanh bệnh nhân vào chỗ mát, không được cho uống nước lạnh, không được đặt xuống đất ướt.
Pháp điều trị: Khai khiếu tỉnh thần
Châm cứu: Nhân trung, thập tuyên hoặc giật tóc mai cho tỉnh đồng thời kết hợp dùng: Nước tiểu trẻ em 20 – 30ml cho uống và lấy khăn tẩm nhiều nước tiểu trẻ em khác xoa khắp người rồi đắp rốn, đắp mặt.
Đồng tiện: Tính mát, lành tác dụng thanh nhiệt khí, trừ lao, hạ xuyễn, điều trị trưng hà, cầm máu, sát trùng (Hải Thượng Y tông tâm lĩnh – Tập 3)
3- CHỨNG TRÚNG PHONG
3.1.Định nghĩa: Trúng phong là chứng bệnh phát sinh cấp, đột ngột và rất nặng. Bệnh nhân bỗng nhiên ngã lăn ra bất tỉnh nhân sự hoặc bán thân bất toại hoặc tứ chi không cử động được, mặt méo, mắt lệch, nói khó. Có trường hợp nhẹ hơn không bất tỉnh nhân sự nhưng vẫn có bán thân bất toại.
3.2. Bệnh danh: Trúng phong, bán thân bất toại (cần lưu ý phân biệt thuật ngữ trúng phong trong thương hàn luận: Phong tà nhập biểu)
3.3. Nguyên nhân – Cơ chế sinh bệnh:
Bệnh phần nhiều do chính khí hư suy, can phong nội động gây ra, chủ yếu do nội phong gây ra, có thể phối hợp với ngoại phong cùng gây bệnh, hiếm khi chỉ do ngoại phong gây ra. Cụ thể, người ta thường nói tới 3 loại nguyên nhân sau:
+ Tình chí tổn thương, sinh hoạt mất bình thường, âm dương trong người rối loạn, đặc biệt là thận âm thiếu, tâm hoả bốc mạnh, can không được nuôi dưỡng, dương bốc lên trên, cuối cùng can phong bạo phát gây bệnh.
+ Ăn uống không điều độ, lao lực quá sức, tỳ không kiện vận, thấp tụ sinh đàm, đàm uất hoá nhiệt, can phong cùng đàm quấy nhiễu bên trên, che kín thanh khiếu xuyên vào kinh lạc mà đột nhiêu phát bệnh.
+ Môi trường khác nhau, cũng có thể do kinh lạc hư trống phong tà xâm nhập gây nên.
Do người vốn âm hư dương cang, đàm trọc quá thịnh, lại thêm ngoại cảm phong tà thúc đấy nội phong mà gây bệnh.
Như vậy, về cơ chế bệnh sinh thấy nổi lên sự tác động qua lại của các yếu tố: Phong (can phong); hoả (tâm hoả, can hoả), đàm (thấp đàm, phong đàm), khí (khí hư, khí nghịch), huyết (huyết ứ). Một số tài liệu khác cho rằng: 4 yếu tố chính là phong, hoả, đàm và sự tắc nghẽn (khí huyết ứ).
3.4. Các thể bệnh và điều trị:
- Trúng phong kinh lạc: 2 thể: âm hư hoả vượng; phong đàm (có tài liệu xếp thêm thể: mạch lạc hư trống, phong tà xâm nhập).
- Trúng phong tạng phủ: 2 thể: chứng bế; chứng thoát.
3.4.1.Trúng phong kinh lạc: (TBMMN không có hôn mê).
a. Âm hư hoả vượng: Thường gặp ở những người CHA thể can, thận âm hư.
- Triệu chứng: liệt 1/ 2 người; liệt mặt, có thể thoáng mất ý thức, hoa măt chóng mặt, mạch huyền tế sác.
- Biện chứng: can thận âm hư, can dương bốc mạnh, âm dương mất cân bằng, huyết dâng khí nghịch, trên thịnh dưới hư, nên đau đầu, tài ù mắt mờ, ngủ ít… Can phong nội động, phong chạy vào kinh mạch gây liệt nửa người, mạch huyền tế sác.
- Pháp điều trị: tư âm tiềm dương, khứ phong thông lạc (trấn can, tức phong)
- Điều trị:
Bài thuốc: Bình can tức phong thang gia giảm:
Thiên ma 16g Nam tinh 10g
Câu dằng 16g Điạ long 10g
Bạch tật lê 12g Ngô công 12g
Cương tàm 12g Chỉ xác 12g
Hy thiêm 16g Hồng hoa 12g
Bài Trấn can thức phong thang gia giảm:
Bạch thược 12g Mẫu lệ 10g
Huyền sâm 12g Ngưu tất 10g
Quy bản 12g Câu đằng 12g
Long cốt 10g Cúc hoa 8g
Xương bồ 10g Địa long 10g
Viễn chí 8g Hồng hoa 8g
- Châm cứu: Châm các huyệt bên liệt, châm xuyên huyệt, châm tả các kinh dương – bổ các kinh âm, thay đổi huyệt: Một ngày châm tư thế nằm thẳng, một ngày châm tư thế nằm nghiêng. Cụ thể:
- Thuỷ châm: Vitamin nhóm B liều cao, Vitamin C nếu có nhiệt nhiều.
- Xoa bóp – bấm huyệt: làm các động tác (18) ở nửa bên liệt. Nên hướng dẫn người nhà bệnh nhận làm thường xuyên, 2h/lần đặc biệt ngay những ngày đầu tránh loét và cứng khớp.
Hướng dẫn bệnh nhân làm các động tác tự tập: Đây là vấn đề quan trọng.
b. Phong đàm: “ thường gặp ở những người CHA thể đàm thấp”.
1. Triệu chứng: Liệt nửa người, liệt mặt, miệng nhiều dớt dãi, lưỡi cử động khó khăn, rêu lưỡi trắng dày, mạch huyền hoạt.
2. Biện chứng: Đàm uất hoá hoả, sinh phong. Phong đàm chạy vào kinh mạch gây liệt nửa người, mạch huyền hoạt, lưỡi nhớt, rêu trắng dày.
3. Pháp điều trị: Thanh đàm, tức phong, thông lạc, kiện tỳ trừ thấp.
4. Phương:
- Bài thuốc:
Đạo đàm thang gia giảm:
Bán hạ chế 8g Chỉ thực 8g
Phục linh 8g Toàn yết 4g
Trần bì 6g Cương đàm 8g
Cam thảo 6g đởm nam tinh 8g
Gia: Hoàng cầm, Tang ký sinh, Trúc như, Bạch truật, Đào nhân.
Bài Trấn can tức phong thang gia giảm: giảm liều bổ âm, gia Đởm tinh, Trúc lịch, Hoàng cầm, Thạch cao.
- Châm cứu: Châm như trên thêm huyệt Phong long, Tỳ du.
- Thuỷ châm: như trên
- Xoa bóp – Bấm huyệt: như trên
- Hướng dẫn bệnh nhân tập luyện: như trên
3.4.2. Trúng phong tạng phủ: TBMMN có hôn mê. Bệnh cảnh lâm sàng rất nặng, cần phải phối hợp các biện pháp hồi sức tích cực của YHHĐ. Đông y chia làm 2 loại là chứng bế và chứng thoát. Cần phân biệt rõ 2 chứng này để có pháp điều trị thích hợp: chứng bế là chứng thực cần gấp khử tà; chứng thoát là chứng hư cần gấp phù chính cứu thoát.
Triệu chứng chung: Lúc bắt đầu, có đột nhiên ngã vật, bất tỉnh nhân sự, chân tay bất toại, mồm méo, chảy rãi, nặng hơn có thể tử vong.
- Chứng bế thường do phong động, đờm nghịch: gồm dương bế và âm bế. Dương bế do phong dương và can hỏa gây nên.
Âm bế thường do phong đờm gây nên.
- Chứng thoát thường do chân khí bạo tuyệt.
3.4.2.1. Dương bế:
Triệu chứng: Bất tỉnh nhân sự (Hôn mê nông), mặt đỏ, thở phì phò, tay nắm, chân duỗi, hàm răng cắn chặt, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch huyền hoạt sác.
Xử trí: Thanh nhiệt, khai khiếu, thông lạc.
Phương thuốc: Ngải cứu 20g, nước tiểu trẻ em 1 bát, giã nát ngải cứu, cho nước tiểu trẻ em vào hòa đều, vắt lấy nước cốt, bỏ bã. Uống 2 thìa canh 1 lần, ngày uống nhiều lần (Thuốc nam châm cứu – trúng phong). Nếu hàm răng cắn chặt thì dùng ô mai thịt xát vào chân răng cho miệng há ra để đổ thuốc.
Ý nghĩa: Nước tiểu trẻ em để khai khiếu tỉnh thần, ngải diệp để khu tà.
3.4.2.2. Âm bế:
Triệu chứng: Bất tỉnh nhân sự yên tĩnh, thở khò khè, mạch trầm hoãn, rêu lưỡi trắng nhờn.
Xử trí: Khai khiếu.
Phương thuốc: hạt củ cải 4g sao chín, quả bồ kết bỏ hột nướng vàng 4g, tán mịn, uống mỗi lần 4g với nước sôi, nếu nôn được đờm ra là tỉnh. (Thuốc nam châm cứu – trúng phong).
Ý nghĩa: Bạch giới tử (hạt cải củ), tạo giác (Bồ kết) thuộc nhóm ôn hóa hàn đàm, trong đó hạt củ cải chữa chứng âm trở do đàm ở bên trong, bồ kết tác dụng trừ đàm thông khiếu.
3.4.2.3.Chứng thoát
Triệu chứng: Bất tỉnh nhân sự (Hôn mê sâu), mắt mở, miệng há, bàn tay duỗi, thở nhanh, lưỡi rụt lại, mặt sắc xanh, nặng thì vã mồ hôi hột lạnh, mạch khó sờ thấy, nhị tiện tự chảy, hơi thở rất yếu – là chứng nguy kịch.
Xử trí: Cố thoát hồi dương.
Phương thuốc: “Sâm phụ thang” Nhân sâm 16g, phụ tử 12g. Sắc uống cấp cứu. Có thể cứu kết hợp Quan nguyên, khí hải hoặc thần khuyết cho tới lúc có chân tay ấm, mạch rõ, hết mồ hôi thì thôi.
Ý nghĩa: Nhân sâm đại bổ nguyên khí, cố thoát. Phụ tử để hồi dương.
Đọc thêm!
CHỨNG QUYẾT
Định nghĩa: Chứng quyết là chứng đột nhiên bất tỉnh, chân tay lạnh toát, cũng là chứng khí thượng nghịch làm cho âm dương mất điều hòa không tương thuận.
Theo Tuệ Tĩnh: “Quyết chứng là chân tay giá lạnh. Khí thuộc dương, dương hư ở dưới âm lấn vào sinh giá lạnh (Hàn quyết), huyết thuộc âm, âm huyết hư ở dưới thì dương phát vào nên phát nóng (nhiệt quyết) đó là 2 chứng trạng âm dương đối lập nhau.
Đặc điểm: Quyết chứng phát tương tự như trúng phong nhưng trúng phong thì người còn ấm, mà chứng quyết thì người lạnh. Trúng phong thường có bán thân bất toại còn chứng quyết thì thời gian bất tỉnh ngắn (cũng có khi không tỉnh lại được vì quá nặng) và thường không có bán thân bất toại. Chứng quyết cũng không có biểu hiện cân cơ máy giật như chứng kính (Nam dược thần hiệu – chứng quyết).
Cũng cần phân biệt, chứng quyết có chân tay quyết lạnh song chưa hẳn cứ chân tay quyết lạnh đã có chứng quyết.
Liên hệ với YHHĐ: hay gặp trong các trường hợp: Choáng do mất máu, trúng nắng, choáng do hạ đường huyết, cơn cao huyết áp nặng, Histeria... thuộc phạm vi chứng quyết của YHCT.
Nguyên nhân: Ngoại cảm lục dâm, nội thương thất tình, đờm, thức ăn, giun... biểu hiện trên lâm sàng tương ứng hàn quyết, nhiệt quyết, thử quyết, khí quyết, huyết quyết, đờm quyết, hồi quyết...
Cơ chế bệnh sinh:
Hàn quyết do nội tạng hư hàn dương khí không đủ để ra ôn dương tứ chi (Thuộc hư chứng)
Điểm khác: với chứng trúng hàn là người hư yếu chính khí suy, hàn tà từ ngoài vượt qua 3 kinh dương đánh thẳng vào 3 kinh âm làm các khiếu bị tắc gây bất tỉnh nhân sự, khí lạnh làm dương khí tiêu tán gây chân tay giá lạnh (thực chứng nhiều hơn hư chứng).
Nhiệt quyết thường do nội tạng ứ nhiệt đốt ở trong, dương khí uất lại ở trong không tỏa ra tứ chi.
Thử quyết thường do đi lâu, làm nặng dưới nắng gắt của mùa hạ, đột nhiên bị trúng thử tà làm khí cơ mất thăng giáng gây tắc trở cả trên và dưới gây hôn quyết.
Khí quyết do 2 nguyên nhân: Một là giận dữ hoặc khiếp sợ làm khí cơ nghịch loạn, che lấp mất tâm khiếu (thực chứng). Hai là nguyên khí suy làm việc mệt hoặc khiếp sợ làm khí hạ, thanh dương không thăng được (hư chứng).
Huyết quyết do 2 nguyên nhân: Một là can dương nguyên đã vượng, nay lại lên cơn thịnh nộ làm huyết theo khí nghịch lên, khí huyết cùng nghịch che lấp thanh khiếu (thực chứng). Hai là sau khi đẻ mất máu hoặc mất máu do các nguyên nhân khác lúc đó huyết thoát kéo theo khí thoát gây nên vựng quyết (hư chứng).
Đờm quyết thường thấy ở người to béo mà khí hư, thích ăn chất béo ngọt, uống rượu, tỳ vị bị tổn thương làm thấp tụ lại sinh đờm, đờm ứ lại ở trung tiêu làm trở ngại khí cơ gây thăng giáng mất điều hòa lâu dần, đờm làm tắc khí đạo thanh dương không lên được gây hôn quyết.
Thực quyết: Thức ăn tích lại đình ở bên trong làm bế tắc cả trên và dưới cơ hoành, khí cơ bị trở ngại nghẽn tắc gây quyết (thường gặp ở trẻ em). Người lớn ăn no gặp việc giận dữ thì thực khí chèn nhau cũng dễ xảy ra chứng quyết.
Hồi quyết do hàn lại bị giun đũa công kích gây nên.
Triệu chứng: Gồm 2 loại chứng thực và chứng hư:
II. XỬ TRÍ CẤP CỨU CHỨNG QUYẾT
1. Chứng thực
Triệu chứng: Thở thô, chân tay cứng, răng cắn chặt, mạch thực.
Pháp điều trị: Khai khiếu tỉnh thần: Giật tóc mai, châm nhân trung, thập tuyên chích nặn máu.
Phương thuốc: Trích từ thuốc nam châm cứu
Bài 1: Sinh khương 20g, rượu trắng 30ml. Giã vắt nước cốt gừng hòa với rượu hâm lên cho ấm, đổ cho uống mỗi lần 10ml, uống cho đến lúc tỉnh (Trúng hàn bất tỉnh).
Bài 2: Nước tiểu trẻ em cho uống 30 ml (Trúng thử bất tỉnh)
Bài 3: Ngải cứu 20g, nước tiểu trẻ em 1 bát, giã nát ngải cứu, cho nước tiểu trẻ em vào hòa đều, vắt lấy nước cốt, bỏ bã. Uống 2 thìa canh 1 lần, ngày uống nhiều lần (điều trị như trúng phong bất tỉnh thể dương bế).
Phương thuốc dùng ngoài: bồ kết bỏ hạt nướng vàng12g, bán hạ sống 10g, tán mịn, dùng lượng bằng hạt đậu xanh thổi vào mũi để thông quan khai khiếu, khi bệnh nhân hắt hơi được là tốt.
2. Chứng hư
Triệu chứng: Thở yếu, mồm há, chân tay lạnh, mạch vi tế.
Pháp điều trị: Hồi dương cứu thoát.
Phương thuốc: “Sâm phụ thang”
Nhân sâm 10g (tẩm gừng), phụ tử chế 6 – 8g sắc lấy 100ml uống làm 2 lần. Nếu bệnh nhân không tự uống được phải cậy răng, nghiêng đầu để đổ thuốc, nếu không nuốt được phải cho qua ống xông.
Phương thuốc dùng ngoài: (bài này còn dùng trong điều trị chứng trúng hàn)
Hành củ 50g, cám gạo 60g, muối 30g hoặc chỉ dùng một vị hành củ giã nát, sao nóng chia 2 gói bằng vải thay đổi nhau chườm lên rốn hoặc cứu huyệt thần khuyết đến khi chân tay ấm.
Hoặc ngải cứu cứu thần khuyết cho tới khi chân tay ấm.
Các chứng trên sau khi qua giai đoạn cấp cứu bệnh nhân tỉnh thì tiếp tục điều trị theo nguyên nhân.
III. XỬ TRÍ SAU CẤP CỨU CHỨNG QUYẾT
1. Khí quyết
Triệu chứng: Bị kích động bất tỉnh nhân sự, chân tay quyết lạnh, ngực đày, khó thở, tay nắm, rêu lưỡi trắng, mạch trầm huyền hoặc phục (thực chứng).
Pháp điều trị: Thuận khí khai uất (thuận khí điều can).
Phương: „Ngũ ma ẩm tử“ gồm 5 vị thuốc hành khí: Mộc hương 6g, chỉ thực 9g, trầm hương 6g, ô dược 9g, tân lang 9g (Binh lang).
Trong đó trầm hương, ô dược để thuận khí khai uất (Sơ can), mộc hương, chỉ thực, tân lang để hành khí hóa trệ, giáng nghịch
Trường hợp hư chứng: khí thoát, bất tỉnh, thở yếu vã mồ hôi, thân thể lạnh, mạch vi nhược dùng bài Tứ vị hồi dương ẩm (=Tứ nghịch thang+Nhân sâm)
2. Huyết quyết
Triệu chứng: Sau mất máu cấp, đột nhiên bất tỉnh, mặt tái bệch, môi bệch, chân tay máy động, tự hãn, chân tay lạnh, thở yếu, mạch vi tế (thuộc hư chứng).
Pháp điều trị: bổ dưỡng khí huyết
Phương: Độc sâm thang dùng ngay để bổ dưỡng nguyên khí sau đó dùng nhân sâm dưỡng vinh thang hoặc Quy tỳ thang.
Trường hợp đột nhiên bất tỉnh, răng cắn chặt, tai nóng, mặt đỏ, mạch huyền, chân tay quyết lạnh (Thực chứng)
Điều trị: Hoạt huyết, thuận khí
Phương: Thông ứ tiễn hoặc hóa can tiễn.
3. Thử quyết (liên hệ YHHĐ: Say nắng, say nóng)
Triệu chứng:
a- Bị trúng thử, (say nắng) bất tỉnh, vã mồ hôi, thở dốc, mặt bệch, da lạnh, lưỡi đỏ, mạch tế sác.
Thử nhiệt xâm nhập, thanh khiếu bị đóng lại nên hôn mê, thử nhiệt nung nấu bên trong tân dịch tiết ra ngoài nên toát mồ hôi, nhiệt uất vào sâu khí cơ khó cử động, tay chân da dẻ lạnh)
Pháp điều trị: Giải thử, ích khí
Phương: Nhân sâm bạch hổ thang hoặc trúc diệp thạch cao thang.
b- Nếu trúng thử (Say nóng: Nhiệt uất bên ngoài) có da nóng, mặt đỏ, mạch hư huyền sác
Pháp điều trị: trừ thử, lợi thấp
Phương: Lục nhất tán.
Nếu mồ hôi ra nhiều, tay chân lạnh dùng sinh mạch tán gia vị Biển đậu, hà diệp để thanh thử.
4. Hàn quyết
Triệu chứng: Chân tay quyết lạnh, nằm co, không khát, mặt bệch, nước tiểu trong, mạch trầm trì tế.
Pháp điều trị: Ôn kinh, tán hàn.
Phương: Phụ tử lý trung thang hoặc “Tứ nghịch thang” (cam thảo, phụ tử, can khương) nặng hơn thì dùng Sâm Phụ để hồi dương.
5. Nhiệt quyết (liên hệ YHHĐ: Sốt cao co giật)
Triệu chứng: Khi mới bị bệnh thì người nóng, đầu đau, sau đó sốt cao khát nước, bồn chồn, phân kết, đại tiện khó, tiểu tiện ít, mạch hoạt sác, nặng thì chân tay quyết lạnh. Thông thường biểu hiện nặng nhẹ của chứng nhiệt quyết liên quan tới mức độ nhiệt nhiều hay ít, nhiệt nặng gây quyết nặng, nhiệt nhẹ gây quyết nhẹ.
Pháp điều trị: Quyết nhẹ thì dùng pháp tuyên thông dương khí bị uất lại dùng bài “tứ nghịch tán” (sài hồ, chỉ thực, bạch thược, cam thảo).
Phương: Quyết nặng tà vào dương minh chưa vào phủ (Chưa có táo kết) thì dùng pháp thanh nhiệt sinh tân bài thuốc là “bạch hổ thang”.
Nặng hơn, tà khí vào dương minh và vào phủ thì dùng pháp Cấp hạ để cứu âm dùng bài “Tiểu thừa khí thang” (Đại hoàng, chỉ thực, hậu phác)
6. Thực quyết
Triệu chứng: phát sau khi ăn no, rồi bị cảm phong hàn hoặc tức giận làm thức ăn ứ lại, tỳ dương không vận hóa được, bụng đày chướng chân tay quyết lạnh, bất tỉnh, rêu lưỡi dày nhớt, mạch hoạt thực.
Pháp điều trị: Hòa trung tiêu đạo
Phương: “Bảo hòa hoàn” (Đan khê tâm pháp)
= Nhị trần thang bỏ cam thảo thêm liên kiều, la bạc tử, sơn tra, thần khúc.
Nếu bệnh nhân không đi ngoài được phân táo kết dùng bài: Tiểu thừa khí thang.
7. Đàm quyết
Triệu chứng: người vốn có đờm, đột nhiên bất tỉnh, trong họng có đờm kêu lọc xọc hoặc nôn ra đờm rãi, chân tay quyết lạnh, lưỡi có rêu trắng bẩn, mạch trầm hoạt.
Pháp điều trị: hành khí hóa đờm
Phương: Đạo đàm thang (tế sinh phương) = Nhị trần thang thêm Nam tinh, chỉ thực.
IV. TỔNG KẾT
Chứng quyết là một chứng nặng, nguyên nhân các quyết nói trên tuy khác nhau nhưng bệnh lý thường do khí cơ rối loạn, thăng giáng thất thường gây nên. Khí quá thịnh bốc lên đè tắc thanh khiếu, khí hư thiếu thì khí bị hãm mà không lên, thanh dương không thư giãn đều gây ra chứng quyết.
Trên thực tế lâm sàng thường gặp khí quyết, huyết quyết và thử quyết. Khí quyết có chứng hư và thực, thực chứng do can khí không thông, khí cơ rối loạn cần dùng phép thuận khí khai uất. Hư chứng do nguyên khí vốn yếu, nhất thời khí cơ rối loạn nên dùng phép bổ khí hồi dương. Huyết quyết cũng có hư và thực, thực chứng do can khí bốc lên huyết theo khí đi lên nên dùng phép hoạt huyết thuận khí, hư chứng do mất huyết quá nhiều, huyết không dâng lên được cần bổ khí nhiếp huyết. Thử quyết thường xảy ra vào mùa hè, cách chữa cần thanh thử ích khí.
Đọc thêm!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)