Sỏi tiết niệu



SỎI TIẾT NIỆU – THỂ HUYẾT Ứ
*TC:
- Vùng hạ vị đầy trướng, bĩ tức khó chịu và đau, lúc nhẹ lúc nặng, thường cố định, đau xiên, đau nhói, đau kịch liệt
- Bĩ trướng lúc có lúc không, lúc tan lúc tụ: giai đoạn đầu do khí trệ. Khi có huyết ứ: Vùng bụng đau nhói, ấn vào đau tăng, nơi đau cố định.
- Tiểu tiện khó, tiểu tiện ra máu hoặc ra máu cục
- Chất lưỡi tía tối hoặc có điểm ứ huyết, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền.
*Biện chứng luận trị:
Do sỏi làm khí cơ của BQ bất lợi, khí không thông thời thống nên đau, bĩ trướng khó chịu, lúc có lúc không.
Khí trệ nên huyết không lưu thông, huyết ứ nên có các triệu chứng đau nhói, đau xiên, đau cố định, ấn vào đau tăng, chất lưỡi đỏ tía hoặc có điểm ứ huyết.
Bệnh thuộc thực chứng nên mạch huyền.
Vì bệnh do khí trệ huyết ứ, lại do sỏi gây ra nên pháp là lý khí hành trệ, hoạt huyết thông lâm.
*Pháp: lý khí hành trệ, hoạt huyết thông lâm.
*Phương: Tứ vật đào hồng gia giảm: Xuyên khung 12, Đương quy 16, Sinh địa 16, Bạch thược 12, Đào nhân 8, Hồng hoa 8, Chỉ thực 8, Đại phúc bì 12, Uất kim 8, Kê nội kim 8
Hoặc dùng bài: Chỉ xác 12, Đào nhân 8, Kim tiền thảo 20, Sa tiền 20, Kê nội kim 10.
*Châm cứu:
Nếu có cơn đau quặn thận thì kết hợp châm cứu, kích thích mạnh, ngày 1 lần, tùy vào vị trí sỏi mà chọn huyệt.
Nếu là sỏi thận và sỏi niệu quản trên thì châm các huyệt: Thận du, Kinh môn, Túc tam lý
Nếu là sỏi niệu quản dưới, sỏi bàng quang thì châm các huyệt: Quan nguyên, Khí hải, Trung cực, Bàng quang du, Túc tam lý

SỎI TIẾT NIỆU – THỂ THẬN HƯ

*TC:
- Đau lưng âm ỉ đã lâu, người mệt mỏi, vô lực.
- Hay đau đầu, hoa mắt
- Bụng đầy trướng, tiểu tiện không thông, tiểu nhiều lần, nước tiểu đục.
- Chất lưỡi đạm, rêu lưỡi trắng, mạch trầm tế.
*Biện chứng luận trị:
Do thận hư không khí hóa được BQ mà gây ra các chứng tiểu tiện bất thông, tiểu nhiều lần.
Khí hóa BQ bất lợi nên sinh ra sỏi mà gây các chứng nước tiểu đục, thấp ngưng trệ ở hạ tiêu nên bụng đầy trướng.
Vì thận hư nên lưng đau âm ỉ, thận khí hư yếu nên người mệt mỏi, vô lực, hay đau đầu, hoa mắt, chất lưỡi đạm, rêu lưỡi trắng, mạch thì trầm tế.
Vì gốc bệnh là do thận khí hư nên pháp là ích khí bổ thận, thận hư nên sỏi hình thành vì vậy mà cần thông lâm bài thạch.
*Pháp: Ích khí bổ thận, thông lâm bài thạch
*Phương dược: Hữu quy ẩm gia giảm: Thục địa 16, Hoài sơn 12, Sơn thù 8, Cam thảo, Quế nhục 6, Phụ tử 6, Đỗ trọng 12, Trạc tả 12, Kim tiền thảo 20
*Châm cứu:
Nếu có cơn đau quặn thận thì kết hợp châm cứu, kích thích mạnh, ngày 1 lần, tùy vào vị trí sỏi mà chọn huyệt.
Nếu là sỏi thận và sỏi niệu quản trên thì châm các huyệt: Thận du, Kinh môn, Túc tam lý
Nếu là sỏi niệu quản dưới, sỏi bàng quang thì châm các huyệt: Quan nguyên, Khí hải, Trung cực, Bàng quang du, Túc tam lý

SỎI TIẾT NIỆU – THỂ THẤP NHIỆT
*TC:
- Tiểu nóng rít và đau, tiểu rắt, tiểu nhiều lần
- Nước tiểu xuống không hết, thường kèm theo đái ra máu, hoặc đái đục, đái ra sỏi
- Hoặc dang đi tiểu bị đứt quãng đột ngột
- Bụng dưới trướng đầy
- Miệng đắng, khát không muốn uống
- Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dày, dính nhớt
- Mạch huyền sác hay hoạt sác.
*Biện chứng luận trị:
Do thấp nhiệt uất kết ở BQ làm khí của BQ không lợi, sực đóng mở thất thường nên có các triệu chứng rối loạn tiểu tiện: Tiểu nóng rít và đau, tiểu nhiều lần, tiểu rắt, nước tiểu xuống không hết.
BQ bị hỏa nhiệt hun đốt, chất nước kết lại thành sỏi đá mà gây đái đục, đái ra sỏi, có khi đang đi tiểu bị đứt quảng đột ngột do sỏi bít tắc.
Do nhiệt bức huyết, làm tổn thương đường lạc, hoặc do sỏi làm tổn thương huyết lạc mà gây đái máu.
Thấp trệ ở hạ tiêu mà sinh chứng bụng dưới trướng đầy, vì nhiệt mà miệng khát nhưng thấp trệ nên không muốn uống. Nhiệt nên chất lưỡi đỏ, rêu vàng dày, có thấp nên dính nhớt. Vì thực nhiệt nên mạch huyền sác hoặc hoạt sác.
Vì bệnh thuộc lý thực nhiệt lại kèm thấp nên pháp là thanh nhiệt lợi thấp. Vì bệnh do thạch gây nên nên pháp là thông lâm bài thạch.
*Pháp: Thanh nhiệt lợi thấp, thông lâm, bài thạch.
*Phương: Đạo xích tán gia giảm: Sinh địa 16, Đạm trúc diệp 16, Mộc thông 8, Cam thảo sao cháy8, Kim tiền thảo 40, Sa tiền 20, Kê nội kim 8.
Nếu đái máu gia: Cỏ nhọ nồi 16, Tiểu kế 12
Nếu đái nhiều gia: Ô dược 8, Uất kim 8, Diên hồ sách 8
*Châm cứu:
Nếu có cơn đau quặn thận thì kết hợp châm cứu, kích thích mạnh, ngày 1 lần, tùy vào vị trí sỏi mà chọn huyệt.
Nếu là sỏi thận và sỏi niệu quản trên thì châm các huyệt: Thận du, Kinh môn, Túc tam lý
Nếu là sỏi niệu quản dưới, sỏi bàng quang thì châm các huyệt: Quan nguyên, Khí hải, Trung cực, Bàng quang du, Túc tam lý