THOÁI HOÁ KHỚP
1.
Thoái hoá khớp
thể thận khí hư, vệ ngoại bất cố, tà khí thừa cơ xâm nhập:
+ Chứng hậu: (SGK)
+ Biện chứng:
·
Theo Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, điều cốt yếu của chứng Tý là
do bên trong cơ thể hư suy, hai kinh Can Thận bị suy yếu khiến cho tinh huyết
giảm, không nuôi dưỡng được gân xương, tà khí thừa cơ xâm nhập vào cơ thể mà
gây nên bệnh. Do tuổi cao, thận khí hư, vệ khí hư yếu. Vệ ngoại bất cố làm cho
tà khí (phong, hàn, thấp, nhiệt) xâm nhập vào cơ thể, tà khí ứ lại ở cơ nhục,
cân mạch, kinh lạc làm khí huyết không thông gây ra Cảm giác đau nhức các khớp
xương, đặc biệt là vùng lưng, gối.
·
Khí huyết của kinh lạc bị nghẽn trở không lưu thông lâu ngày làm
các gân mạch quanh khớp xương không được tư dưỡng khiến cho hạn chế vận động
các khớp. Thận khí hư, dương khí của cơ thể giảm sút gây mệt mỏi, thở ngắn; Mạch
trầm tế.
·
Sách Tố Vấn ghi: “Tạng Thận suy, hình thể đều mệt cùng cực”
·
Thận khí hư, lực vận hành của khí kém nên không vận chuyển được ra
ngoài cơ biểu, tứ chi để ôn ấm nuôi dưỡng huyết mạch nên bệnh nhân sợ lạnh, chi
lạnh. Thận khí hư không khí hoá được bàng quang nên, tiểu tiện nhiều lần. Thận
hư không khí hoá được thuỷ dịch, thuỷ thấp ứ đọng trong cơ thể ngấm ngầm ra lưỡi
nên lưỡi bè to, rêu lưỡi trắng mỏng.
·
Luận trị:
-
Thận khí hư: ích khí, dưỡng thận
-
Tà khí xâm nhập gây bế tắc kinh lạc: khử tà, thông kinh lạc
2.
Thoái hoá khớp
thể Can thận âm hư
+ Chứng hậu:(SGK)
+ Biện chứng:
·
Theo Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, điều cốt yếu của chứng Tý là
do bên trong cơ thể hư suy, hai kinh Can Thận bị suy yếu khiến cho tinh huyết
giảm, không nuôi dưỡng được gân xương, tà khí thừa cơ xâm nhập vào cơ thể mà
gây nên bệnh.
·
Do tuổi cao, chức năng các tạng trong cơ thể hư suy, hoặc do ốm
đau lâu ngày hoặc do bẩm tố cơ thể tiên thiên bất túc, hoặc do phòng dục quá độ
khiến cho Thận tinh hao tổn, thận hư không nuôi dưỡng được can âm, dẫn tới Can
huyết hư. Thận hư không nuôi dưỡng được cốt tủy. Tinh huyết bất túc, ngũ tạng
hư yếu. Tinh khí của ngũ tạng đưa đến tàng chứa ở Thận giảm sút dẫn tới tinh
khuy dịch kiệt, hư hoả nội sinh thiêu đốt Thận làm Thận âm hư. Thận âm, Thận
tinh hư suy không dưỡng được Can âm nên âm huyết ở Can cũng hư tổn.
·
Sách Tố Vấn ghi: “Thận chủ cốt tuỷ, thận tàng tinh, tinh sinh tuỷ,
tuỷ ở trong cốt và nuôi dưỡng cốt”. Thận hư không nuôi dưỡng cốt gây ra Lưng, cổ
và tứ chi đau mỏi. Can huyết hư không nuôi dưỡng được cân mà gây ra Hạn chế vận
động.
·
Can huyết hư, huyết không đủ lưu thông trong kinh mạch và nuôi dưỡng
gây ra Chân tay tê bì: Rêu lưỡi mỏng.
·
Can âm hư, âm không đủ để tiềm dương làm cho Can dương vượng lên
che lấp khiếu trên gây Hoa mắt chóng mặt, mạch huyền.
·
Tinh huyết bất túc, não kém được nuôi dưỡng nên Đầu đau âm ỉ. Thận
khai khiếu ra tai, thận tinh hao tổn nên Tai ù.
·
Bình thường khi ngủ, huyết trở về tàng ở Can. Can huyết hư nên khí
âm của Can không đủ. Can không tàng huyết nên người bênh Ngủ ít
·
Can thận âm hư sinh nội nhiệt nên Lưỡi hồng, mạch tế sác
· Luận trị:
-
Can thận âm hư: Bổ can thận.
-
Đau mỏi, tê bì: Thông kinh lạc.
3.
Thoái hoá khớp
thể khí trệ huyết ứ:
+ Chứng hậu:
(SGK)
+ Biện chứng:
·
Theo Hải Thượng Lãn Ông Lệ Hữu Trác, điều cốt yếu của chứng Tý là
do bên trong cơ thể hư suy, hai kinh Can Thận bị suy yếu khiến cho tinh huyết
giảm, không nuôi dưỡng được gân xương, tà khí thừa cơ xâm nhập vào cơ thể mà
gây nên bệnh.
·
Do lao động nặng nhọc, gánh vác lâu ngày, hoặc do tuổi đã cao, cơ
nhục yếu, lại thêm vận động sai tư thế hoặc do sang chấn, va đập làm tổn thương
kinh mạch. Kinh mạch bị tổn thương dẫn tới đường đi của khí huyết không thông,
khí huyết ứ lại gây Khớp xương đau nhức, không lan, hạn chế vận động: Sưng nóng
một số khớp ở tứ chi .
·
Khí huyết uất trệ bít tắc kinh lạc, doanh âm không được nuôi dưỡng,
vệ khí không được ấm áp cho nên xuất hiện Chân tay tê bì: Rêu lưỡi mỏng: Mạch trầm
sáp.
·
Kinh mạch bế tắc, huyết xấu ứ kết ở mạch lạc nên Đau đầu; Hoa mắt
chóng mặt
·
Khí là soái của huyết, khí hành thì huyết hành, khí trệ thì huyết ứ.
Huyết ứ trệ làm Chất lưỡi hồng, có điểm ứ huyết.
·
Luận trị:
-
Khí trệ huyết ứ: Hành khí hoạt huyết.
-
Kinh lạc bế tắc: Thông kinh hoạt lạc.